Posted in Trùng Khải

Trùng Khải – Chương 8

Chương 8. Mộ tổ Dương gia.

.

Dứt lời, Bàn Tử quay sang đòi tiền tôi. Tôi móc túi ra được 5 đồng, còn chưa kịp đưa cho anh ta thì nghe từ trong điện thoại vọng ra tiếng một bà trung niên giọng đặc sệt phương ngữ.

Bàn Tử ngây người, tôi bèn rụt ngay 5 đồng trở về. Bàn Tử bèn đáp bằng tiếng Phúc Kiến: “Bà chị, sao bà chị lại nhấc máy điện thoại của nhà này? Cậu đẹp giai nhà tụi này đâu rồi?” Do không có năng khiếu ngôn ngữ như Bàn Tử nên tôi chẳng hiểu bà chị kia trả lời cái gì. Nhưng chẳng được bao lâu sau, hai người kia bắt đầu liến thoắng cãi lộn qua điện thoại.

Từng có một đợt khi hai đứa bọn tôi ra ngoài một thời gian, lúc nào gọi điện về nhà cũng chỉ nghe báo máy bận. Bàn Tử bèn nói, hóa ra Tiểu Ca cứ giả vờ đứng đắn lạnh lùng trước mặt tụi mình như vậy thôi, ngoảnh  đi một cái là ôm điện thoại nấu cháo cả ngày trời. Về sau mới biết thì ra sau khi chúng tôi rời thôn, có một bà thím đến nhà bọn tôi ôm máy điện thoại gọi đường dài cho đám con cháu ở tỉnh khác, mỗi lần gọi là phải nấu cháo điện thoại đến bốn năm tiếng đồng hồ.

Tiết trời oi bức, Bàn Tử quạu lên, tôi cũng nóng hết cả ruột, bấy giờ mới nhận ra người mình đã mướt mát mồ hôi. Cổ lẫn mắt cá chân bắt đầu ngứa râm ran, cúi đầu nhìn xuống chỉ thấy chi chít một đám côn trùng nhỏ xíu bằng hạt vừng đang hút máu no nê, đập một cái là be bét máu.

Tôi quay sang nhìn Bàn Tử, mới phát hiện sau ót lẫn mu bàn tay Bàn Tử cũng đều bám chi chít lũ côn trùng hạt vừng đó. Điều quái đản là, toàn bộ lũ côn trùng này chỉ bám vào mặt sau cánh tay, sau ót, sau mắt cá chân, toàn là những vị trí khó phát hiện ra. Tôi lập tức giơ tay đập.

Bàn Tử giật bắn mình, tôi cầm tay anh ta lật ra cho xem, anh ta mới nhảy dựng lên, cuống cuồng đập túi bụi.

Nhưng trên người tôi lẫn anh ta đều đã nổi đầy những nốt đỏ li ti, thành từng mảng lớn, ngứa râm ran, nom cứ như một loại bệnh ngoài da vậy.

Bàn Tử liền sửng cồ lên, gào ầm lên với chiếc điện thoại: “Cái mụ già thối tha này, bỏ ngay cái điện thoại xuống, gọi cậu đẹp giai nhà này ra đây.”

Hai đứa bọn tôi ra khỏi khu rừng, nháo nhào chạy về thôn. Cãi lộn chửi bới xong, Bàn Tử dập máy, nói Muộn Du Bình không có nhà, đành phải nhờ bà thím đó chờ hắn trở về để chuyển lời cho hắn. Bàn Tử nhìn hai bàn tay cùng mắt cá chân của mình, nói: “Đã nói là tụi mình cần cậu ta rồi, thế mà cậu cứ không tin.”

Tôi đoán vậy là hắn không đến được rồi. Từ Phúc Kiến đến nơi này mất một ngày đường, nếu Muộn Du Bình không có nhà chứng tỏ hắn đã vào trong núi, mà mỗi lần hắn vào núi như thế phải mất đến khoảng một tuần liền, có khi chúng tôi xong việc rồi mà hắn vẫn chưa ra khỏi núi ấy chứ. Tuy thường xuyên đem hắn ra làm trò đùa, nhưng cũng không thể thực sự coi hắn như cái nhang muỗi mà xài được.

Vì vậy tôi không còn đắn đo gì nữa, quay về thôn, vào trong chợ bán sỉ, mua xẻng, dây thừng, nến và đèn pin, còn cả quần thun và găng tay cao su nữa.

Bánh rán trong thôn khá ngon, khác với loại tôi vẫn thường ăn. Bánh này khô, rất mỏng, tôi mua lấy một bịch to tướng gói bằng mấy lớp giấy và túi nilon. Xong xuôi, chúng tôi gói ghém đồ đạc quay về dốc mộ hoang.

Trên đường đi, tôi đối chiếu lại tấm ảnh chụp và dãy núi phía xa kia đến mấy lần. Hồi đó chú Ba trông thật trẻ, chắc là vào thời điểm trước chuyến đi Hoàng Sa. Nghĩ đến tuổi tác của mình lúc này, tôi bỗng có chút ngẩn ngơ.

Dường như cả đời tôi đều đang thực hiện lại những gì chú Ba đã làm.

Vác theo mớ trang bị khiến chúng tôi nom như mấy bà nội trợ đi quét nhà xí vậy. Trời dần tối mịt, nắng chiều bị núi che mất, chỉ còn lại những tia sáng xơ xác như tơ bông ló ra khỏi rặng núi. Thôn làng phía xa đã lên đèn, đứng trong rừng cây, chỉ khi ngẩng đầu lên mới nhìn thấy được sắc trời tờ mờ giữa những kẽ lá. Chiều tối, trời mát hơn, lũ côn trùng nhỏ xíu cứ bay vù vù lướt qua kẽ tóc. Chúng tôi đã bôi đầy dầu gội lên mặt mũi và đầu tóc để ngăn côn trùng, nhưng làm vậy lại càng nóng hơn, mồ hôi hòa tan với dầu gội nhỏ long tong xuống người, khiến bọn tôi nom như hai bức tượng sáp đang chảy.

Xẻng tôi mua không phải loại xẻng chuyên dụng, chúng tôi bèn cưa cán xẻng ra, cầm đoạn xẻng ngắn tũn mà đào. Hang trộm đã có sẵn ở dưới, chỉ cần đào sâu xuống chừng ba mét là thấy tấm ván gỗ che chắn cửa hang trộm. Cạy tấm ván ra là thấy cái hang ấy ngay. Cái hang được đào cực khéo, thứ nhất là rộng rãi, thứ hai là có sẵn những hốc lõm để kê chân. Mỗi hốc lõm đó lại được chèn một viên gạch.

Hang trộm được đào xiên dốc, chạy về hướng vách núi. Bàn Tử thu dọn đồ đạc xong, cầm một cái nia đan bằng tre, phủ đất lên trên, rồi đậy lại lên cửa hang giả làm mặt đất bình thường. Sau đó, anh ta bật đèn pin, cả hai đứa cùng chui xuống. Chui được chưa đầy hai mươi mét, chúng tôi liền bắt gặp vách ngoài của ngôi mộ. Lỗ thủng trên vách đã bị bịt kín bằng loại gạch còn mới, nhưng không phải là bít chết.

Bàn Tử liếc nhìn một lượt, trong cái hang trộm này, ngay bên ngoài vách mộ là một cái bếp con, còn có vài chai rượu, một túi mì ăn liền và rất nhiều phích giữ nhiệt. Anh ta nói: “Tinh tế chưa. Nhìn này, đây là việc làm ăn của mấy thế hệ luôn ấy nhỉ. Không chừng còn có cả chỗ cắm sạc di động nữa đấy.”

Tôi muốn khoét mấy cục gạch mới kia ra thì Bàn Tử ngăn lại: “Khoan đã, có chỗ không ổn.”

Anh ta cầm đèn pin chiếu vào vị trí lỗ thủng trên vách mộ. Ở đó có đầy tro hương và vàng mã đã đốt, nhiều cái đốt còn chưa hết. Anh ta cẩn thận chiếu sáng chỗ tường gạch bịt kín lỗ thủng vách mộ, trên đó có một dòng chữ màu đỏ đã phai màu: “Từ phụ Dương công quý long mộ.”

“Có nghĩa là gì?” Bàn Tử hỏi.

Tôi nói: “Anh nói đúng rồi. Lão gia tử họ Dương quả đúng là ở trong đó, hơn nữa…” Tôi liền phát hiện ra nhiều điều kỳ quặc khác. Tôi lấy tay chùi hết lớp bụi đất dày bám trên vách mộ, mới phát ra trên vách còn nhiều chữ khắc khác, toàn là những cái tên trên bia mộ. Có đến mười mấy dòng chữ như thế, đều mang họ Dương.

“Cả nhà họ Dương đều ở trong này, cả nhà họ kiếm cơm dựa vào cái mộ này, sau đó chết rồi cũng táng vào trong đây luôn sao?”

“Sao phải thế?” Bàn Tử hỏi: “Keo kiệt bủn xỉn đến mức ấy kia à?”

“Chắc là có nguyên nhân. Cứ mở cái mộ này ra là biết thôi.” Tôi lạy mấy cái, rồi cạy mấy cục gạch ra, để lộ ra lối vào, rồi tự mình chui vào trước. Cầm đèn pin soi quanh khắp nơi.

Trần vòm của ngôi mộ rất thấp, chỉ có thể ngồi xổm mà chui vào. Phản ứng đầu tiên của tôi là kinh ngạc, tôi cứ tưởng đây là một ngôi mộ lớn ít cũng phải ngàn năm tuổi, nào ngờ liếc nhìn một hồi mới nhận ra là không phải. Niên đại của ngôi mộ này rất gần, sớm nhất là vào thời Thanh chứ không thể hơn được nữa. Nhưng khi nhìn kiểu cách lộn xộn và mấy hình vẽ mang hơi hướm Tây dương cùng ngói lưu ly sặc mùi công nghiệp do máy móc ép thành, tôi cảm thấy đây thậm chí có thể là mộ thời Dân quốc.

Nhưng kỳ lạ là bốn vách tường mộ lại vẽ đầy bích họa. Do niên đại khá gần nên các bích họa tuy đã loang lổ nhưng chưa bị oxy hóa. Bích họa rất tinh xảo, hoàn toàn khác với kết cấu vòm trần thô lậu xấu xí. Tôi cầm đèn pin chiếu xuống mặt đất, nhìn thấy có một hàng bài vị dựa vào tường, trước các bài vị bày đầy vàng mã và đồ cúng đã thối rữa, ấy vậy mà lại không có lấy một cỗ quan tài hay một bộ hài cốt nào.

“Đồ đâu?” Bàn Tử hỏi, “Mộ này chỉ có thế thôi à?”

Anh ta thất vọng vô cùng. Tôi nhìn chằm chằm các bức bích họa, thấy trong đó vẽ rất nhiều hình mây đen và sấm chớp.

Advertisements

3 thoughts on “Trùng Khải – Chương 8

Gửi lời yêu thương ♥

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s