Posted in Lão Cửu Môn

[LCM đồng nhân] Người hàng xóm

Người hàng xóm

.
Tác giả: YAYA亞子
Lời tác giả: Khải/Hồng, viết tiếp dựa trên thiết lập có sẵn của nguyên tác.
Tôi viết từ năm ngoái, thực ra rất muốn thử diễn tả lại hai người này dưới góc độ của người thứ ba, vốn là định vẽ doujinshi đem xuất bản, nhưng người tính không bằng trời tính, thôi viết lại cốt truyện xem như làm kỷ niệm.
Link fic trên Lofter: http://yaya1029.lofter.com/post/26a123_6709e6d
Người dịch: Vân Mộc

Lưu ý: KHÔNG ĐEM BẢN DỊCH NÀY ĐI NƠI KHÁC NGOÀI BLOG NÀY.

.

 

Tôi nhớ hồi còn học trung học, trong khu tập thể nơi tôi sống có một cụ già. Ông cụ sống một thân một mình, chẳng bao giờ thấy bất kỳ người thân hay bạn bè nào đến thăm, dù đi ngang qua gặp người hàng xóm nào đấy cũng chỉ gật đầu chào hỏi một câu, không nói gì thêm nữa. Mỗi khi đi đường, chân ông cụ không được linh hoạt cho lắm, mà khu tập thể của chúng tôi lại không có thang máy, thỉnh thoảng tôi lại thấy dáng vẻ tập tễnh bước trên cầu thang của cụ.

Các dì các thím trong khu tập thể đều đồn rằng, đó là do hồi trẻ ông đánh giặc Nhật, chân bị trúng đạn nên mới như vậy.

Chú Trịnh bán sữa đậu nói, hình như năm xưa ông cụ đút lót hải quan để trốn đến đây, có khi ngày xưa lại là quan lớn vinh hoa phú quý gì đó không chừng.

Tôi làm quen được với ông cụ thực ra là do một lần trùng hợp. Hồi ấy, tôi mê cờ tướng, mê đến nỗi về sau bạn bè trong lớp chẳng có đứa nào là đối thủ của tôi nữa, cho nên cứ mỗi ngày sau khi tan học về, tôi lại ôm hộp cờ chạy đến gốc cây trong công viên, sát phạt từng ván cờ với mấy ông cụ trong xóm.

Ngay hôm đó, trời nhá nhem tối, tôi từ công viên trở về, đột nhiên trời đổ cơn mưa. Tôi lại không mang theo dù, mà cơn mưa lại to đến nỗi có thể giội ướt đẫm cả sách trong cặp lẫn quần lót của tôi trước khi tôi kịp ù té chạy về nhà. Bất đắc dĩ, tôi đành chạy đến trú dưới mái hiên của một cửa hàng đã đóng cửa gần đó, chờ mưa tạnh.

Lúc ấy, bên dưới mái hiên đã có một người đang đứng, mới đầu tôi còn hả hê nghĩ không biết tên nào xui xẻo cũng mắc kẹt ở đây giống mình, đến khi tôi chạy vọt vào trong, đứng trú dưới đó, mới nhìn rõ, thì ra là cụ già kia.

Ông cụ thấy tôi cũng chẳng buồn phản ứng gì nhiều, vẫn chỉ là gật đầu với tôi một cái rồi nhìn sang nơi khác. Tôi đứng bên cạnh, nhìn cơn mưa xối xả như trút nước mà chẳng có tí mảy may dấu hiệu là sắp ngớt, ngược lại, mưa như ngày càng to hơn, tôi nghĩ đến bài kiểm tra thê thảm nhét trong cặp sách kia, lại nghĩ đến khi về nhà thế nào cũng bị mẹ chửi mắng một trận tơi bời, nghĩ đến mấy ván thua đau ở công viên hôm nay, rồi nghĩ cho đến bây giờ mình vẫn còn chưa được cầm tay một bạn gái nào… Càng nghĩ càng buồn muốn thúi cả ruột, sau đó, tôi chợt nhớ đến hộp cờ tướng trong cặp.

Ngay lúc đó, nhất định là có sợi dây thần kinh nào đó của tôi bị chập mạch, hoặc là não bị ẩm ương sao đó, bởi vì lúc ấy, tôi quay qua nói với ông cụ đứng bên cạnh bằng tiếng phổ thông:

“Ông biết chơi cờ tướng không ạ?”

Nghe vậy, ông cụ có vẻ kinh ngạc quay đầu nhìn tôi một cái, tôi cứ nghĩ ông không thèm đếm xỉa đến tôi như những ngày thường, không ngờ, ông lại thản nhiên đáp:

“Biết.”

“Cháu thấy mưa thế này phải còn lâu nữa mới tạnh được, mà đứng mãi ở đây cũng chán,”

Tôi chỉ vào bộ bàn ghế thấp mà chủ cửa hàng vứt ở ngoài hiên.

“Chi bằng ông cháu mình làm một ván nhé?”

Kết quả, ngày hôm ấy sau khi trời tạnh mưa, tôi đưa ông cụ chậm chạp quay về khu tập thể, (về đến nhà đương nhiên là bị mẹ tôi xạc cho một trận, đến khi tôi kể chuyện ông cụ, mẹ tôi lại càng mắng dữ hơn, bảo tôi đừng có xen vào chuyện của người khác), từ đó về sau, thi thoảng tôi lại đến chỗ ông đánh cờ.

Mãi về sau, tôi mới nhận ra thì ra ông cụ này cũng không già đến mức ấy, chẳng qua mái tóc xám trắng cùng gương mặt đầy những dấu vết biến động của thời gian khiến ông già hơn tuổi thật rất nhiều. Tôi cũng phát hiện, thì ra ông cụ này quả thực có thể nói chuyện, mà lại còn đầy một bụng tri thức, phong phú cực kỳ, thiên văn địa lý phong thủy huyền học cái gì cũng có thể nói được. Dần dần tôi còn thích nghe ông kể những chuyện kỳ hoặc phong thủy hay các loại truyền kỳ miền thôn dã hơn là đánh cờ. Mặc dù tôi cảm thấy tất cả những yêu quái đáng sợ, trận pháp kỳ dị hay cơ quan khủng bố dưới mộ phần trong các câu chuyện kể đó đều là do ông cụ bịa ra hết mà thôi, nhưng không biết vì sao, nghe lời kể của ông mà cứ cảm thấy chân thực vô cùng.

Thằng bạn chí cốt của tôi biết chuyện, mới cười phá lên một trận rất vô lương tâm, nói tôi chưa già đã thành ông cụ non, đến mức có thể bầu bạn được với một ông lão đơn thân về hưu. Nhưng tôi vẫn không làm sao ngăn mình bước qua cánh cửa nhà ông cụ ấy được.

Chẳng qua tôi vẫn không tài nào đoán ra được xuất thân của ông cụ, ông không nói, tôi cũng không dám hỏi nhiều, chỉ có một lần, tôi không kìm được nỗi tò mò mới hỏi ông, có phải chân ông thật là do quân Nhật bắn trúng nên mới như vậy hay không.

“Không phải,”

Ông cụ cầm cái cốc bằng thép lên uống một hớp nước, ngừng lại một chút:

“Năm đó, lúc ông chạy nạn, bị bọn giặc bắt được, ông bèn nhân lúc mưa to, trốn ra khỏi trại tập trung, bọn giặc đuổi theo, ông bèn nấp vào trong một ngôi mộ cổ, trong mộ có nhiều nước đọng, nên phải ngâm cả hai chân trong nước lạnh suốt năm ngày liền. Hồi trẻ thì chẳng làm sao, về già rồi, bao nhiêu bệnh tật nó phát ra.”

Còn có một lần, khi tôi về nhà, bỗng nhìn thấy ông cụ đứng ngẩn người trước bảng thông báo dưới tầng của khu tập thể, tôi đến gần, mới thấy trên bảng thông báo dán một tấm áp-phích công diễn của đoàn kịch Thất Tiểu Phúc. Tôi hoàn toàn không hiểu tuồng kịch, nhưng khi thấy vẻ mặt ông cụ khi nhìn chằm chằm vào tấm áp-phích kia, tôi cũng đoán ra được mấy phần.

Mấy ngày sau, tôi kiếm được một cái máy hát cũ, đem tặng cho ông cụ, tôi còn phải uy hiếp đe dọa dụ dỗ cầu xin thằng bạn chí cốt, nhờ nó thó tạm mấy cái đĩa nhạc Kinh kịch quý báu của bố nó. Ông cụ nhìn thấy đống đồ tôi kiếm được, khuôn mặt lộ vẻ kích động hiếm thấy, ngay cả bàn tay cầm chiếc đĩa hát cũng hơi run rẩy. Tôi nói, ít nhất thì bây giờ cũng có đĩa hát rồi, cứ để tạm ở chỗ ông nhé.

Thế là, đêm hôm ấy, cả hành lang nghe văng vẳng tiếng hát của Bạch Nương Tử Hàng Châu.

Nhưng ngay ngày hôm sau, khi tôi vừa về nhà, thấy ông lão đứng dưới lầu, vẫn ngay trước tấm áp-phích công diễn của đoàn kịch ấy. Ông thấy tôi, vẫy vẫy tay gọi tôi lại.

“Cháu đem mấy thứ đó về đi.”

Tôi hơi kinh ngạc, mới hỏi có phải là hát không hay không.

“Hát hay,”

Ông cụ trả lời, quay đầu nhìn tấm áp-phích với vẻ mặt cô độc,

“Hát quá hay.”

Thằng bạn chí cốt của tôi nói, những người già đã trải qua quá nhiều chuyện đều như vậy, mình vĩnh viên không bao giờ hiểu được lời bọn họ nói chỗ nào là thật, chỗ nào là giả.

.

Năm tôi ôn thi đại học, tôi không thể không nghiêm túc đối mặt với vấn đề học hành và kết quả học tập, cộng thêm cái chân của ông cụ càng ngày càng giở chứng, hình như bây giờ ngay cả việc đi lại cũng đã tốn sức lắm rồi, có mấy lần tôi bảo ông hay là đến bệnh viện lớn kiểm tra xem sao, ông đều lắc đầu nói, cái thứ bệnh cũ này người ngoài xem cũng chẳng ích gì. Tôi quá bận bịu với việc thi tốt nghiệp, không có thời gian quan tâm đến ông nữa, tự nhiên, số thời gian gặp gỡ cũng ngày càng ít hơn.

Mấy tháng sau, vất vả lắm tôi mới có được chút thời gian rảnh rỗi, đến thăm phòng ông một chuyến. Cách bài trí trong phòng vẫn không có gì thay đổi, nhưng trái lại, dáng vẻ của ông cụ làm tôi giật cả mình.

Chỉ trong khoảng thời gian ngắn này mà dường như ông cụ già sọm đi rất nhiều.

Ông mở cửa, nhìn tôi một cái, cũng không nói gì nhiều, đi thẳng vào trong phòng, ngồi xuống cái ghế mây mà ông vẫn thường ngồi mỗi khi chơi cờ. Tôi phát hiện bây giờ mỗi khi đi lại ông đều phải chống gậy, thầm nghĩ cái mà ông gọi là “bệnh cũ” chắc đã nghiêm trọng hơn rất nhiều rồi.

“Hôm nay không chơi cờ được rồi.”

Ông vẫy tay với tôi, rồi rút từ trong lòng ra một phong bì màu nâu, nói:

“Cháu đem thư này đến bưu điện trên đường Lạc Thiện giúp ông nhé.”

Tôi nhận lấy phong bì kia, lật trước lật sau nhìn một lượt, không nhịn được nhíu mày nói:

“Trên phong bì không ghi lấy một địa chỉ hay địa danh nào, ông định gửi đến đâu cơ?”

“Trong bưu điện có một người họ Tề, cháu cứ giao cho người ấy là được.”

Tôi gật đầu, tiện tay nhét phong bì vào trong cặp, đến khi ra đến cửa, nghe sau lưng có tiếng ông cụ nói vọng ra:

“Đừng làm mất.”

.

Mấy ngày sau, tôi đi tìm ông cụ, nói đã gửi phong bì ấy rồi, tiện thể than phiền với ông rằng người nhân viên bưu điện họ Tề kia quái đản ơi là quái đản. Ông cụ nghe vậy, lại nở một nụ cười hiếm thấy, hình như tinh thần cũng khá hơn một chút. Sau đó, ông lại nhờ tôi xuống lầu xem trong hòm thư có thư của ông hay không, tôi nghĩ thầm, chẳng qua chỉ là khoảng cách trên lầu dưới lầu thôi, sao ông không tự đi? Nhưng đến khi nhìn cây gậy ông chống, những lời này vẫn không tài nào thốt ra khỏi miệng được.

Về sau, cứ cách mấy tuần, tôi lại gặp ông trên hành lang. Ông nhìn thấy tôi, cũng chào hỏi, hỏi thăm tình hình gần đây của tôi, cuối cùng là hỏi tôi có thư của ông hay không. Phải chạy đi chạy lại xuống vài lần, quả thực tôi có hơi ngán, nhưng cũng không thấy phiền, chỉ là mỗi lần khi nghe thấy câu trả lời của tôi, vẻ mặt thoáng thất vọng của ông khiến lòng tôi cũng nặng như đeo chì.

Có lần, không nhịn được tôi hỏi rốt cuộc ông đang đợi ai, không ngờ ông cụ không tảng lờ tôi đi mỗi lần tôi hỏi đến chuyện riêng của ông nữa, mà chỉ bình tĩnh đáp: Nhận được thư rồi ông sẽ nói cho cháu.

Thế là, cứ như vậy, tôi giữ thói quen chạy xuống lầu giúp ông xem hòm thư mãi cho đến tận lúc thi xong đại học. Có kết quả, tôi bèn chạy đến gõ cửa phòng ông, nói rằng tôi đã thi đậu một trường ở khu vực khác, ngày mai sẽ phải chuyển đến ký túc xá luôn, về sau không thể thường xuyên đến thăm ông được, cho nên hôm nay đến thăm ông một chuyến, tiện thể chơi một ván cờ cuối với ông. Nghe tôi nói xong, ông cụ vẫn không có phản ứng gì lớn, vẫn giống như thường ngày, lọc cọc chống gậy quay về ngồi xuống chiếc ghế mây kia, nói với tôi, khi ấy vẫn còn đang đứng ngoài cửa.

“Đi xem hòm thư giúp ông lần cuối đi.”

Thế là, lại một lần nữa, tôi xuống lầu mở hòm thư của ông, sau đó lại lên lầu, nói với ông rằng:

Không có, không có thư của ông đâu.

.

Vào đại học, tôi chơi bời đến phát điên cả người, cuộc sống đại học muôn vàn màu sắc khiến tôi không còn chút tâm tư nào để nghĩ về cuộc sống nơi quê nhà nữa, dĩ nhiên, cũng bao gồm cả ông cụ kia. Một năm học trôi qua, có lần, tôi về nhà thăm cha mẹ, mới phát hiện trên cửa phòng ông cụ đã dán một tờ quảng cáo cho thuê phòng. Tôi hỏi, bố tôi mới nói, ông cụ đó đã qua đời từ mấy tháng trước rồi, vì sống một mình nên chẳng ai hay, mãi cho đến khi hàng xóm ngửi thấy mùi hôi thối xông lên, mới tìm chủ thuê cạy khóa đi vào mới phát hiện ra ông chết từ bao giờ.

Hình như ở vùng này ông cụ chẳng có lấy một người thân, cảnh sát lục tìm trong phòng ông suốt cả ngày mới thấy tấm giấy chứng minh nhân dân của ông, nhưng khi đối chiếu số giấy tờ, mới phát hiện đó là một số chứng minh thư của một người đã chết từ mười năm trước. Cảnh sát bất đắc dĩ nói, những người tháo chạy năm xưa đều có kết cục như vậy, cuối cùng chẳng còn cách nào khác, chủ nhà thấy ông cụ đáng thương mới đưa ông ra nghĩa trang công cộng chôn cất qua loa. Vì chuyện này mà bố tôi ca cẩm mãi cả một buổi chiều, nói số tôi thật may mắn, lêu lổng với loại người không rõ lai lịch như thế suốt bao lâu nay mà không xảy ra chuyện gì.

Hai ngày sau, tôi nhận được một cái bọc nhỏ, giống y hệt chiếc phong bì màu nâu mà tôi từng quen thuộc. Bên trên có ghi địa chỉ nhà tôi, nhưng không ký tên người gửi. Tôi mở bọc ra, từ bên trong đổ ra được một chiếc vòng ngọc màu trắng cùng một mẩu giấy con con, viết rằng: sau này nếu có gặp chuyện gì khó khăn, cần kíp, vật này có thể giúp được vài phần. Tôi vừa nhìn là biết ngay đây là thứ mà ông cụ kia để lại cho tôi, chỉ có ông mới có thể bày ra cái trò đùa đáng ghét này.

Tôi vụng trộm hỏi chủ nhà vị trí chôn cất ông cụ, lén bố mẹ tôi đến đó một chuyến. Đứng trước tấm bia đá nho nhỏ ấy, bỗng dưng tôi cảm thấy trong lòng sục sôi một cảm giác phẫn nộ. Suốt bao nhiêu năm qua, bất tri bất giác, trong lòng tôi đã coi ông là một người bạn quan trọng của mình, thế mà ông vẫn ra vẻ cao thâm khó lường y như cũ, ngay cả khi chết rồi vẫn còn ra vẻ như là đặc vụ Quốc Dân Đảng để lại manh mối như trong phim, tôi cảm thấy như mình bị lừa gạt, hơn nữa, còn là bị lừa gạt suốt mấy năm liền. Tôi càng nghĩ càng giận, về đến nhà, tôi nhét chiếc vòng ngọc cùng mẩu giấy kia vào nơi sâu nhất trong tủ quần áo.

Về lại trường học, tôi tiếp tục cuộc sống bình thường của mình, thi thoảng tôi lại nghĩ đến ông cụ kia, nhớ đến những câu chuyện lạ kỳ mà ông thường kể. Tôi từng đến bưu điện trên đường Lạc Thiện kia để tìm người nhân viên họ Tề nọ, nhưng người ta báo cho tôi biết trong bưu điện xưa nay chưa từng có ai như vậy. Thời gian dần trôi, tôi dọn ra khỏi chỗ ở ban đầu, chuyển đến nhà mới, mấy năm sau, tôi tốt nghiệp, ra trường, tìm được việc làm, vài năm sau nữa, tôi kết hôn, làm cha, tuổi dần cao, có nhiều chuyện cũng dần quên đi mất.

Cho đến ngày con gái tôi lấy chồng, đúng lúc đó, thị trường tài chính trong nước rơi vào cảnh ảm đạm, công ty tôi cũng gặp khó khăn, nhưng dù thế nào thì cũng là chuyện cả đời của con gái tôi, làm tiệc cưới không thể qua loa quá được, tôi vì chuyện đồ cưới mà chạy vạy khắp nơi đến sứt đầu mẻ trán. Đến một ngày, tôi đột nhiên nhớ đến chiếc vòng tay màu trắng mà ông cụ để lại cho mình.

Thế là tôi quay lại khu tập thể cũ kỹ năm xưa, cũng may bố mẹ tôi sống cả đời ở nơi này, sau khi bọn họ qua đời, tôi không nỡ bán căn phòng này đi, đồ đạc trong nhà ở đâu vẫn còn nguyên ở đó. Tôi mất nguyên một ngày để lật tung khắp căn nhà lên, vất vả lắm mới tìm được chiếc vòng ngọc nọ. Nói thật, tôi không nhìn ra được vật này giá trị cỡ nào, ngoài trừ mặt trong chiếc vòng có khắc những hoa văn nhỏ kỳ quái ra thì nhìn chung trông nó gần như chẳng khác gì hàng ba xu ngoài vỉa hè.

Tôi cầm lấy nó, đến cửa tiệm cầm đồ gần nhất, họ trả tôi cái giá thấp đến mức không thể tin nổi. Tôi chưa bỏ cuộc, chạy đến tận mấy cửa tiệm liên tiếp liền, nhưng kết quả vẫn chỉ ở khoảng ngần ấy. Trong lòng tôi bừng lên một ngọn lửa vô danh, cảm thấy dường như mình lại bị ông cụ kia đem ra làm trò đùa. Đúng lúc tôi gần như bỏ cuộc rồi, liếc thấy gần đó có một tiệm đồ cổ tầm thường, tôi mới vào trong tiệm, chẳng ôm chút hy vọng gì. Ban đầu, chủ tiệm còn chẳng buồn đon đả chào mời tôi, nhưng đến khi tôi đặt chiếc vòng ngọc màu trắng kia lên bàn, ông ta liền trợn to hai mắt, ngay sau đó, ông ta đổi ngay sắc mặt, cuống quít mang đến nào là kính lúp gắn đèn, nào là mấy cuốn sách tả tơi cũ kỹ, săm soi chiếc vòng đó suốt hồi lâu…

Một tiếng đồng hồ sau, tôi cầm một tấm chi phiếu bên trên ghi một con số lớn chưa từng thấy đứng bên ngoài cửa tiệm đồ cổ, cảm thấy như thể mình trúng xổ số độc đắc trong mơ vậy.

.

Chuyện cưới hỏi của con gái tôi đã đâu vào đấy, một thời gian sau, có một ngày, chuông cửa nhà tôi vang lên. Tôi mở cửa, thấy một người đàn ông xa lạ mặc âu phục đứng bên ngoài. Tôi còn chưa kịp phản ứng, người kia đã mỉm cười, mở lời trước bằng tiếng phổ thông tiêu chuẩn:

“Lưu tiên sinh đấy phải không? Có phải cách đây không lâu, ngài từng bán một chiếc vòng ngọc cho một cửa tiệm đồ cổ?”

Nói rồi, người nọ đưa danh thiếp cho tôi. Tôi nhận lấy, nhìn lướt qua, mới thấy trên đó ghi tên một phòng đấu giá ở Bắc Kinh, bên trên còn in mấy chữ chức vụ “Chủ tịch hội đồng quản trị”. Nghi ngờ dấy lên trong lòng, người trước mặt này quá trẻ tuổi, cộng thêm chiếc áo sơ-mi thẳng thớm màu hồng nhạt bên trong lớp áo vest ngoài, nhìn thế nào cũng chẳng thấy đứng đắn tẹo nào.

“Sao anh tìm được đến nhà tôi?”

“Cửa tiệm đó có hợp tác kinh doanh với công ty tôi.”

Người đàn ông mặc âu phục không trả lời thẳng câu hỏi của tôi, điều này làm tôi càng thêm cảnh giác. Tôi không cho chủ tiệm kia biết bất kỳ thông tin cá nhân nào của mình, chuyện bán chiếc vòng tôi cũng chưa từng kể với vợ, chỉ nói với cô ấy rằng, khoản tiền kia là đi vay từ mấy vị cha chú trong nhà. Tôi thấy hơi sờ sợ, nhưng nghĩ mấy thủ đoạn lừa bịp thời nay nhiều quá rồi, nên tôi mới nói thẳng với người mặc âu phục, rằng nếu anh ta không đi ngay thì tôi sẽ báo cảnh sát ngay lập tức.

Người mặc âu phục nhìn tôi chằm chằm một hồi lâu, bỗng nhiên thở dài, cười khổ nói:

“Xem ra quả thực ngài không biết cái gì cả.”

“Biết cái gì?”

Tôi thấy không thể hiểu nổi, kinh tế không khởi sắc nên người điên cũng ngày càng nhiều chăng? Người mặc âu phục không đáp, trái lại, lấy một cái hộp nhỏ từ trong chiếc cặp táp cầm bên người ra, mở nắp, đưa đến trước mặt tôi. Tôi nhìn thấy, mới nhận ra trong hộp là hai chiếc vòng ngọc, toàn bộ chiếc vòng độc một màu trắng phau phau, ngoại trừ rìa bên trong có vài hoa văn nhỏ xíu kỳ lạ, giống y đúc chiếc vòng mà ông cụ kia để lại cho tôi. Lần này, tôi hoàn toàn không thể hiểu nổi đối phương định giở trò gì nữa, chỉ biết sững sờ nhìn vật này.

“Chiếc bên phải là vật mà trước kia ngài đã bán, tôi biết nó vốn không phải của ngài, tôi còn biết, ngài có được nó từ một vị trưởng bối.”

Nụ cười của người mặc âu phục vụt tắt, anh ta vừa nói vừa cầm lấy một chiếc vòng ngọc trong hộp, nhẹ nhàng gõ vào nó một cái. Ngay lập tức, tôi nghe ba tiếng vang giòn tan vang lên.

Liên tiếp ba tiếng.

Tôi giật mình, nhớ đến một câu chuyện mà ông cụ kia đã từng kể với tôi, cách đây rất lâu.

Ông nói, trong một nhiệm vụ nguy hiểm vô cùng, ông đã lấy được một chiếc vòng ngọc, gõ một cái có thể vang được hai tiếng liên tiếp, lại trong một lần có duyên biết được chiếc vòng này vốn là một đôi, còn một chiếc vòng nữa có thể vang được ba tiếng liên tiếp, kể từ đó ông luôn một mực nhắc nhở mình phải tìm cho bằng được chiếc vòng còn lại.

“Vậy cuối cùng ông có tìm được không?”

Lúc ấy, tôi vừa ngồi cắn hạt dưa vừa hỏi ông.

“Tìm được rồi, nhưng cũng có thể nói là không tìm được.”

“Tức là sao ạ?”

Lần đó, ông cụ thả mình vào chiếc ghế mây, trên nét mặt hiện lên một nụ cười sinh động vô cùng hiếm hoi.

“Ông tặng cho người ta rồi.”

Năm đó, tôi chỉ coi như là ông đang kể chuyện hù tôi mà thôi, chẳng mấy mà quên mất. Bây giờ, nhìn chiếc vòng ngọc trên tay người mặc âu phục kia, tôi đột nhiên nhận ra một điều.

Những câu chuyện mà ông cụ kia kể ngộ nhỡ không phải là giả thì sao? Nếu như những yêu quái đáng sợ, những trận pháp kỳ dị, và những cơ quan khủng bố dưới mộ phần kia cũng chân thực y như hai chiếc vòng ngọc trước mắt này, thì sao?

Nghĩ tới đây, tôi không nhịn được, buột miệng hỏi người mặc âu phục:

“Anh cũng quen ông cụ đấy à?”

Người mặc âu phục nhìn tôi mỉm cười:

“Tôi không quen, nhưng sư phụ tôi quen.”

.

Sau đó, người đàn ông mặc âu phục bày tỏ mong muốn đến thăm mộ phần của ông cụ, tôi lên xe của anh ta, chỉ dẫn anh ta theo trí nhớ, lái về nghĩa trang công cộng năm nào. Dọc đường đi, tôi nói chuyện phiếm với anh ta câu được câu chăng về ông cụ trong ấn tượng của mình, người mặc âu phục đó vẫn luôn im lặng lắng nghe, thỉnh thoảng lại hỏi tôi vài câu hỏi. Cuối cùng, chúng tôi cũng đến nghĩa trang công cộng đó, cũng may quang cảnh xung quanh nghĩa trang đó vẫn còn lưu giữ được vài phần dáng vẻ năm xưa nên chúng tôi mới không lạc đường. Mười mấy năm trôi qua, cái đảo này quả thực đã thay đổi quá nhiều.

Tôi chỉ dựa vào trí nhớ, vất vả lắm mới tìm đến được trước tấm bia đá nhỏ bé của ông cụ, cỏ dại xung quanh đã mọc còn cao hơn cả tấm bia rồi. Tôi ngồi xổm xuống, nhặt hết sạch sẽ số cỏ dại kia, người mặc âu phục cũng không nói hai lời, cởi phăng chiếc áo vest ngoài rồi cũng ngồi xuống giúp tôi một tay.

Tôi nghĩ, về sau rảnh rỗi có lẽ mình nên đến thăm thường xuyên một chút.

Xong xuôi, tôi mới hỏi người mặc âu phục, vì sao lại khăng khăng muốn tìm đến mộ phần ông cụ. Anh ta chỉ nhún vai, nói sư phụ anh ta sinh thời đã giao phó, phải đem món đồ mà ông cụ kia đã gửi nhờ trả lại cho người ta.

“Tôi thấy anh còn trẻ măng, làm sao mà sư phụ anh quen biết ông cụ này được? Ít nhất ông cũng đã mất được 20 năm rồi.”

“Năm ngoái sư phụ tôi vừa qua đời, vừa tròn 102 tuổi.”

Tôi tựa vào cửa xe, uống bia ướp lạnh, nhếch miệng cười với người mặc âu phục:

“Ôi, thế mà ông còn nói với tôi là đã tặng người ta rồi cơ đấy.”

Người mặc âu phục nhìn cổng nghĩa trang, im lặng một hồi lâu rồi mới đáp:

“Có những người đã trải qua quá nhiều chuyện, cũng mất đi quá nhiều thứ, vì thế, mình vĩnh viễn không bao giờ biết được lời bọn họ nói chỗ nào là thật, chỗ nào là giả.”

Tôi nhìn một bên gò má người mặc âu phục, bao nhiêu ký ức bỗng ùa về trong đầu, bỗng dưng tôi như sáng tỏ một điều gì đó.

“Tôi bảo này, sư phụ anh hát hí kịch phải không?”

.

.

Vĩ thanh.

Mấy tuần sau, tôi lại quay về nghĩa trang công cộng ấy, nhưng lại phát hiện phần đất đáng ra phải có bia mộ ông cụ nay lại trống huếch trống hoác chẳng có gì cả. Tôi sững sờ nhìn vạt cỏ rõ ràng vừa mới bị ai đó động vào, ngẩn ra hồi lâu, sau đó, bỗng dưng có cảm giác nhẹ nhõm như vừa tỉnh giấc khỏi cơn mê quá dài.

Tôi thanh thản đạp bước, quay trở về bãi đậu xe, khởi động xe.

Hôm nay con gái gọi tôi về ăn cơm, tôi phải mau mau về nhà thôi.

.

.

FIN.

 

 

 

Advertisements

Gửi lời yêu thương ♥

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s