Posted in Đam mỹ, Đoản văn

[Đoản] Thịnh thế quỷ

novelimage

Tác giả: Lục Lăng Linh
Chuyển ngữ: Cá Sốt Cà

_____________________________________

Thịnh thế quỷ

Chàng thấy một thanh niên phong thần tuấn lãng còn khá trẻ giữa chợ, lòng không khỏi sinh hảo cảm, bất giác liên tục ngoái đầu lại nhìn hắn. Thanh niên trẻ tuổi kia cũng nhìn về phía chàng, khóe miệng bỗng nhếch lên rồi quay người lại ngược theo dòng người tiến về đây.

Lòng chàng bỗng run lên, vừa như sợ hãi, rồi lại có chút thấp thỏm. Thanh niên nọ tiến về phía chàng, nhưng trong nháy mắt lại lướt qua, đi về phía sau. Chàng quay đầu lại nhìn, chỉ thấy thanh niên họ tiến lại gần một cô gái áo lụa thướt tha đứng dưới ngọn đèn. Cô gái nhỏ vừa xấu hổ vừa sợ hãi, cầm chiếc khăn lụa lên che mặt. Thanh niên đứng lại trước nàng, mặt cũng đỏ tới tận mang tai, miệng ấp a ấp úng.

Chàng chợt thấy buồn rầu, liền quay đầu lại không nhìn nữa rồi tiếp tục thuận theo dòng người mà đi tiếp. Tới bờ sông, đột nhiên bắt gặp một thanh niên nhà nông cường tráng với nước da ngăm đen ngồi trước đầu cầu, gánh một gánh lạt trúc, đan thành chim trúc, chó trúc kiếm ít tiền lẻ. Chàng ngồi xuống bên người thanh niên ấy, nhìn người nọ vẻngoài trông rất thô kệch, nhưng ngón tay lại vô cùng linh hoạt. Mấy món đồ đan bằng trúc này, chốc lát đã bị đám nhóc tỳ quấn lấy trưởng bối vòi vĩnh vài đồng mua hết. Chàng nhìn nhìn một lát, cuối cùng cũng không nhịn nổi mà mở miệng nói: “Vị đại ca này.” Hán tử kia dường như không nghe thấy gì, không chút ngưng tay, cũng không ngẩng đầu lên nhìn chàng. Chàng đợi một hồi, lại đưa tay vỗ vỗ lên vai hán tử. Nhưng có vẻ như nhẹ tay quá, hán tử kia vẫn không hề cảm thấy.

Chàng chợt thấy bản thân mình thật vô vị, liền đứng lên buồn bực bỏ đi. Bên bờ sông còn đậu một chiếc thuyền hoa, có vẻ sắp rời bờ. Chàng lững thững lên thuyền, tiến vào trong khoang. Trong khoang nọ chỉ có một vị công tử còn rất trẻ, một mình ngồi bên một bàn rượu ngon mỹ vị, mắt còn nhìn hoa đăng trôi dập dềnh trên bờ sông ngoài cửa sổ, có vẻ vô cùng sầu muộn. Chàng ngồi đối diện vị công tử nọ, chợt cảm thấy bản thân có hơi vô lễ. Nhìn công tử trẻ tuổi mặt mày ủ rũ, muốn nói lời an ủi, lại chẳng biết nên mở miệng thế nào. Chỉ chờ vị công tử nọ có thể thấy mình trước mà mở miệng bắt chuyện. Vị công tử nhìn hoa đăng trên sông một hồi, bỗng thở dài rồi đứng lên thong thả bước qua bên cạnh chàng, hoàn toàn không nhìn chàng lấy một cái, mà bước thẳng ra đầu thuyền.

Chàng cúi đầu, lòng bỗng xót xa. Mình quả nhiên quá thất lễ, làm phiền người ta rồi. Cả một bàn đầy mỹ tửu mỹ thực, đều là các món mỹ vị chàng chưa từng thử qua, nhưng lại không có nổi chút thích thú. Đợi đến khi thuyền hoa cập bến, liền ra khỏi khoang thuyền tiến thẳng lên bờ.

Chàng lại theo dòng người tiến về nơi cao nhất. Càng lên cao, người càng trở nên đông đúc. Thấm thoát đó đã đến trước một gian đại điện to lớn lộng lẫy. Chàng vừa tiến vào điện đã thấy bốn năm người đang tụ tập giữa điện, vừa ăn vừa nói chuyện phiếm. Dù họ chỉ ăn những loại trái cây bình thường, hay mấy món như gà nướng cá chưng, nhưng chàng nhìn mà bụng bỗng sôi lên như trống đánh, không kìm được tiến lại gần.

Mấy người kia thấy chàng bước vào, liền vỗ tay cười nói: “Đúng dịp ghê, lại xuất hiện thêm một người.” Chàng thấy những người này không giống như mấy người trước đó điều làm như không nhìn thấy mình, trong lòng có chút mừng rỡ. Một người trong số đó tiến lên kéo tay áo chàng, đặt một ít điểm tâm vào tay chàng, nói: “Ngươi vừa đến đây, dùng ít điểm tâm lót dạ dày dã.” Rồi quay lại cười mắng mấy người kia: “Lũ tham ăn này, đã ăn nhiều thứ như thế rồi, còn không mau chia một ít cho người ta.”

Mấy người còn lại liền cười chia ít đồ ăn trong tay cho chàng. Chàng chậm rãi ăn qua loa một ít, nghe người đầu tiên nọ mở miệng nói: “Ăn xong rồi chúng ta chia quần áo tiền tài cho ngươi. Giờ đây thiên hạ thái bình hưng thịnh, đừng nói đám quỷ có nhà có người thân, ngay cả đám cô hồn dã quỷ như chúng ta cũng được hưởng phúc, được chia rất nhiều tài vật phổ độ. Tuy ngươi vừa điến đến, cũng không có lý nào bạc đãi ngươi được.”

Chàng nghe được phân nửa, bỗng trợn tròn hai mắt, hỏi: “Cô hồn dã quỷ gì cơ?”

Mấy người kia đều trừng mắt nhìn chàng, rồi vỗ tay cười nói: “Thì ra đúng là quỷ mới chết, còn chưa biết mình đã chết rồi nữa.” Liền có người kéo ống tay áo chàng, chỉ ngoài điện bảo: “Ngươi xem, đó là đại điện của chùa này, tiền điện để tế thần phật, trắc điện để tế tổ tiên. Ngày nay là thời thịnh thế, Bồ Tát mở lòng từ bi, để cho cô hồn dã quỷ chúng ta dung thân ở nơi này. Có mấy bộ áo giấy không viết tên người âm, hay tiền giấy phổ tế chúng sinh vân vân, sau khi hỏa táng sẽ chia cho chúng ta một hai phần.” Người nọ lại chỉ vào đám người còn lại giữa điện đang cười hì hì nói: “Đám người bọn ta đều là cô hồn dã quỷ lưu lạc dương thế, trong lòng tâm niệm chưa hoàn thành, hoặc đã chết quá lâu quên sạch xuất thân rồi. Cũng có người thấy thế gian phồn thịnh, đi đầu thai làm người hưởng phúc một đời. Nhưng nếu không muốn vào vòng luân hồi, liền ở đây ngày ngày hưởng ít cống phẩm, được người người thắp hương cho, xong làm chút việc cho người ta, cũng coi như vui vẻ thoải mái.” Vừa nói, vừa lấy một thỏi bạc vừa hóa vàng xong đưa cho y: “Mấy thứ này ngươi cầm trước đi, nếu gặp đám quỷ sai muốn câu hồn phách của ngươi, cũng có thể đút lót cho họ một ít.”

Chàng như bị sét đánh, tay ôm mấy đĩnh vàng bạc kia, ngẩn ngơ hỏi: “Thì ra ta chết thật rồi sao?” Nói xong liền xoay đi, rầu rĩ nói: “—- Thì ra ta chết thật rồi!” Liền không nhìn đám dã quỷ kia nữa, hoảng hốt chạy ra khỏi điện, chẳng biết muốn đi nơi nào.

Chàng thất tha thất thểu chỉ biết tiến về phía trước, lại chẳng biết nên đi về đâu. Chàng tới cửa thành, binh sĩ thủ thành vừa vừa vừa nhấc then muốn đóng cửa thành, chàng liền lách qua khe cửa sắp đóng chui ra ngoài. Tới sáng sớm, nông phu kéo trâu bước qua đồng ruộng còn vương sương sớm, chàng liền bước qua bờ ruộng từ phía bên kia. Đi ngang qua mấy thôn xóm, trông bà già vung trấu chăn gà, cô nương, nàng dâu nhỏ giặt đồ vo gạo bên giếng, chàng liền bước ngang qua đó, cũng chẳng ai ngẩng đầu lên nhìn.

Chẳng biết đi bao lâu, chàng lại thấy mặt trời bắt đầu lặn. Lúc này chàng đã tới một bờ sông, liền ngồi xuống bên đó. Nước con sông nọ trong vắt, nhìn thấy cả đáy. Chàng ngồi ngắm một hồi liền cởi giày ra, thò chân xuống nước.

Chàng nhìn bàn chân mình dưới dòng sông trong vắt, đột nhiên nhớ ra ngày trước mình cũng từng rửa chân dưới sông như thế. Ngày ấy chàng cũng cúi đầu nhìn chân mình như thế, trên bàn chân ấy toàn là vết máu khô, đen khô thối rữa, là một bàn chân của người chết. Chàng dùng sức chà rửa, vất vả lắm mới rửa sạch hết vết máu rồi mới quấn vải lại, đi giầy vào.

Chàng nhìn chân mình, sững sờ một lát rồi lẩm bẩm: “Đúng rồi, mình quả thật đã chết.”

Bấy giờ ở bên kia sông, một vị hòa thượng bước ra từ màn sương sớm. Hòa thượng thấy chàng, liền chắp tay, lẩm bẩm phật hiệu: “A di đà phật.”

Chàng ngẩn ngơ ngẩng đầu, nhìn hòa thượng hỏi: “Đại sư muốn siêu độ ta sao?”

Hòa thượng lại chắp tay lẩm bẩm a di đà phật rồi nói: “Trong lòng thí chủ còn có chấp niệm chưa hoàn thành.”

Chàng hoang mang: “Trong lòng ta có chấp niệm chưa hoàn thành, nhưng cả ta cũng không biết chấp niệm đó là gì? Chẳng lẽ là do lưu luyến quanh quẩn chốn thịnh thế quá lâu, bản thân cũng quên mất mình đến làm gì sao?”

Hòa thượng liền nói: “Bần tăng thấy quần áo thí chủ mặc có vẻ là đồ của tiền triều, chỉ là có chút rách rưới, dường như không nhận ra được hình dáng cũ nữa. Có lẽ thí chủ đã trải qua thời chiến loạn tiền triều rồi.”

Chàng im lặng nhìn nước sông, ngẫm nghĩ một hồi mới nói: “Ta nhớ hình như sau khi mình chết, có từng giặt quần áo, chỉnh sửa lại dung nhan giữa sông. Vết máu trôi ra, nếu con người có thể nhìn thấy thì sẽ chiếm khoảng nửa con sông. Đại sư có lẽ ngài nói không sai.”

Hòa thượng thở dài rồi bảo: “Giữa loạn thế lưu lạc tha hương, chẳng lẽ thí chỉ nhớ nhung người nhà?”

Chàng lại im lặng một hồi, lắc đầu: “Ta quên mất rồi… ta quên mất rồi.” Rồi ngẩng đầu nhìn hòa thượng, nói: “Ta đi một hồi lâu, con người đều không nhìn thấy ta, không sờ được ta, không nghe thấy ta, cô đơn lắm. Đại sư có thể tán gẫu với ta một lúc được không?”

Hòa thượng tụng một câu a di đà phật rồi đứng bên cạnh chàng, kể cho chàng nghe một số chuyện tiền triều. Chàng cố gắng ngẫm nghĩ, có những thứ rõ ràng, nhưng có những thứ lại rất mơ hồ. Đến khi trời tối, hòa thượng rời đi, chàng lại ngồi một lúc rồi mới đứng dậy tiến về phía trước.

Chàng cứ đi, cứ đi, đến giữa trưa bước tới một gốc liễu to, liền dựa vào gốc cây ngồi xuống.

Chàng ngẩng đầu nhìn những nhánh cây ở trên cao cao kia, thẫn thờ thoáng chốc, bỗng thấy hai cậu bé cheo leo trên cây, mỗi người vừa kéo một cái giỏ trúc rách nát vừa vạch lá chọn mấy nhánh chồi xanh nhạt mới mọc. Hai cậu bé nọ một đứa có vẻ khá lớn, đứa kia nhỏ hơn vài tuổi. Cây liễu thì cao, những cành gần mặt đất đã bị vặt trụi lủi từ lâu, hai đứa bé liền trèo lên cao hơn nữa, nhằm thẳng ngọn cây lung lung lắc lắc mà leo.

Chàng nhìn mà kinh hãi, không khỏi kêu thất thanh: “Cẩn thận!” Một câu vừa thốt ra như thể gọi thứ gì đó giật mình tỉnh giấc, hai cậu bé kia bỗng nhiên cũng không thấy đâu nữa.

Chàng ngơ ngác ngẩng đầu nhìn cành liễu xanh tươi kia, lát sau mới hoàn hồn, thầm nghĩ: “Ảo giác sao?”

Chàng ngồi ở đó, dường như dần dần nhớ lại một số việc. Thì ra đứa bé nhỏ hơn năm ấy chính là chàng. Cây liễu kia, là cái cây đầu thôn quê chàng. Mỗi khi đến mùa đói ăn, chàng cùng với các đứa bé trong thôn liền trèo hái những ngọn chồi non kia, trộn với rau điền bụng. Trẻ con càng nhiều, cành liễu càng ít. Cây liễu kia thường xuyên bị vặt trụi lủi, phải trèo lên tận đầu cành cực cao mới hái được một hai ngọn. Chàng lại nghĩ: “Đứa trẻ lớn hơn kia là nhà ai vậy nhỉ?”

Vừa nghĩ tới đây, ven đường đã có ba người dắt nhau bước tới. Chàng vừa nhìn, thấy hai người đứng bên kia một người toàn thân trắng toát, một người toàn thân đen thui, bên hông còn cuộn dây xích sắt. Chàng thấy ba người kia nhìn mình, liền giật mình, cả kinh nghĩ thầm: “Có lẽ đây chính là quỷ sai!”

Đang thầm ngạc nhiên, ba người kia đã tiến thẳng về phía chàng. Lúc tới gần, vị quỷ sai áo trắng kia cười nói, vẻ mặt hòa nhã: “Thời tiết nóng quá, có thể mượn ít chỗ tránh nắng không?”

Chàng liên tục gật đầu, vội vã nhường chỗ. Ba người kia liền ngồi xuống cạnh. Chàng nhìn người ở giữa, là một ông lão râu tóc bạc trắng, trang phục bình thường, vẻ mặt cũng rất ung dung như thể hồn phách bị câu đi rồi vậy, nhưng trên người lại không hề bị xiềng xích.

Vị quỷ sai áo trắng kia thấy sắc mặt nghi ngờ của chàng liền cười nói, cứ như thể biết chàng đang nghĩ gì vậy: “Ngày nay thiên hạ bình an, đa số chúng dân đều có thể sống đến trăm tuổi, không bệnh mà chết già, bọn ta cũng thanh nhàn nhiều hơn. Sợi xích khóa hồn này vốn là để bắt những ác quỷ lòng mang oán hận, hoặc là thời loạn nhiều quỷ, cần phải bắt bớ nhanh gọn mới dùng đến. Giờ thế đạo bình lặng, cho dù bọn ta có thấy một hai quỷ hồn chấp niệm chưa hoàn thành, cũng có thể mắt nhắm mắt mở cho qua. Ngươi không cần lo lắng.”

Chàng gật đầu, rồi ngồi xuống dưới tàng cây. Vị quỷ sai áo đen lúc này mới mở miệng nói: “Nhìn ngươi có vẻ đã phiêu dạt nhiều ngày, trên người lại đầy thương tích, có lẽ là chết thời loạn chiến đúng không.”

Chàng gật đầu nói: “Đúng vậy. Mấy ngày nay mới nhớ ra được một chút, nhưng vẫn không được rõ ràng cho lắm. Cứ nghĩ có lẽ phải về quê một lần mới được.” Rồi lại nhìn cây liễu trên đỉnh đầu: “—- Nhưng lại chẳng nhớ quê mình ở đâu, chỉ nhớ trước thôn có một cây liễu như vậy.”

Quỷ sai áo trắng nói: “Trong nhà ngươi còn ai không? Phụ mẫu huynh đệ còn sống chăng?”

Chàng nghĩ một hồi, hoang mang lắc đầu: “Ta nhớ phụ mẫu đã sớm qua đời, trong nhà cũng không còn huynh đệ nào khác.”

Quỷ sai áo trắng lại hỏi: “Vậy đã từng cưới vợ sinh con chưa?”

Chàng ngơ ngác suy nghĩ một hồi, chợt thấy một thanh niên tuấn lãng trẻ tuổi đứng trước mặt mình.

Người nọ trông cũng mới khoảng hai mươi tuổi, da hơi ngăm đen, dường như đã quen với việc đồng áng. Người nọ tiến tới ngồi bên cạnh chàng. Chàng nhìn hắn, hắn cũng nhìn chàng, nhưng chỉ lướt qua rồi dời mắt đi. Lại khụ một tiếng, nói: “…”

Chàng nghe thấy người nọ gọi ra một cái tên, chắc đó là tên của chàng rồi, nhưng không làm sao nghe rõ được. Chàng nhất thời vội vã, liền sáp lại gần. Nhưng người nọ không lặp lại nữa, còn vươn tay ra cầm tay chàng. Chàng nghe người nọ hỏi: “…. Vậy chúng ta kết nghĩa làm huynh đệ, bên ngoài là huynh đệ, trong nhà là phu thê, có được không?”

Chàng há miệng, tên người đó đã hiện bên mép như sắp thốt ra rồi, nhưng bỗng giật mình một cái, tỉnh lại.

Thì ra chàng vẫn ngồi ở dưới cây liễu to ấy, đã đến lúc hoàng hôn. Hai vị quỷ sai cùng ông lão kia, không biết đã chạy đi đâu từ bao giờ.

Chàng liền đứng dậy đi tiếp. Cứ nhìn mặt trời lên rồi lại lặn, chẳng biết đã qua bao lần luân hồi, một đêm trời chợt đổ mưa. Chàng tuy là quỷ, nhưng cũng vội vàng tìm chỗ trú. Thấy cách đó không xa có một miếu thổ địa, liền vội vã chạy qua.

Tòa miếu thổ địa đó không lớn lắm, nhưng đèn nhang lại nhiều, trên bàn còn bày vô số cống phẩm, còn có một số cây hương cắm trong lư vẫn chưa đốt hết. Chàng vừa vào miếu, liền cúi đầu vái tượng đất của thổ địa công một cái, mong ngài tha cho tội tự ý xông vào trú mưa của chàng.

Vừa bái xong, liền nghe tượng đất bên trên mở miệng nói: “Dã quỷ ở đâu tới? Bản tôn cho ngươi đi vào rồi sao?”

Chàng sửng sốt, đang không biết trả lời thế nào liền nghe tượng đất cười hì hì hai cái. Cái bóng phía sau tượng đất lóe một cái, một con hồ ly nâu với cái đuôi to xù nhảy ra.

Hồ ly ngồi xuống trước mặt chàng, dùng chân sau gãi gãi lỗ tai, cười nói: “Thì ra là một con quỷ ngốc! Dọa một tý đã sợ!” Chàng đang không biết trả lời thế nào, cái đuôi hồ ly lại động đậy một cái, thoáng chốc biến thành một cô gái yêu kiều, uốn éo hông tiến lại gần chàng. Chàng vội vã lui về phía sau, đang định nói, nàng kia lại trừng mắt nhìn rồi biến thành một nam tử anh tuấn, cúi xuống muốn hôn.

Chàng giật mình sững người, thấy gương mặt người kia đã sát ngay mặt rồi, bỗng phốc một tiếng, trước mặt lại hiện ra con hồ ly kia, còn cười lăn lốc: “Thì ra không chỉ là quỷ ngốc, còn là một con quỷ đoạn tụ!”

Chàng không nói gì, ủ rũ ngồi đó. Hồ ly cười đã mới sát qua: “Đừng giận mà! Ta cũng mới ở đây mấy tháng thôi, ngày ngày mượn danh thổ địa dùng ít cống phẩm, được cung phụng thị hiển linh chút xíu, không ai cung phụng thì đi trêu chọc người ta cũng vui rồi. Giờ thiên hạ thái bình, cũng chẳng ai ghi hận đâu.” Nó giương mắt nhìn kỹ chàng rồi nói: “—– Thì ra là quỷ tiền triều à, thảo nào thảo nào! Nhìn vết thương trên người ngươi, khi ấy chắc là chết thảm lắm. —— Thật có lỗi quá.” Nói xong liền thu hai chân về trước, nghiêm túc lạy một cái.

Chàng im lặng không nói gì, nhưng đột nhiên lại nhớ ra một chuyện, hỏi: “Đại tiên biết hiển linh sao?”

Hồ ly liền vẫy vẫy đuôi, đắc ý nói: “Chỉ biết một ít pháp thuật thôi.”

Chàng hỏi: “Từ khi ta có ý thức cứ mơ mơ màng màng, chẳng biết tại sao mình lại ở đây, cũng chẳng hay mình là người ở đâu, chỉ là cứ đi, đi mãi. Nếu đại tiên có linh thông, có thể chỉ điểm một hai điều chăng?”

Hồ ly ngại ngùng nói: “Bát quái tính mệnh thì bản tiên không biết. Có điều bản tiên cũng có thể giúp ngươi một chút.” Nó nghiêng đầu nhìn chàng một hồi, nói: “Bộ xiêm y ngươi mặc thời tiền triều ta từng thấy rồi, là quân phục của binh sĩ tiền triều. Ngươi có lẽ chết trên chiến trường. Nghe khẩu âm của ngươi, hẳn là người phương Bắc. —— Có điều quỷ tiền triều đã bị câu hết từ lâu rồi, sao lại lưu lại con cá lọt lưới nhà ngươi nhỉ?”

Chàng đáp: “Ta chỉ nhớ phụ mẫu đã sớm mất, chỉ có có một vị huynh đệ kết nghĩa. Không biết có phải vì hắn nên mới du đãng đến giờ không.”

Hồ ly nói: “Nếu đã là huynh đệ kết nghĩa, tại sao không chết chung với ngươi? —- À đúng rồi ngươi chết trên chiến trường. Hắn cũng chết trên chiến trường sao?”

Chàng lắc đầu nói: “Không, hắn ở lại quê nhà.” Một lát sao chàng mới nhận ra mình nói gì: thì ra người nọ ở lại quê nhà sao!

Chàng nghĩ một lúc, thư thái nói: “Đúng rồi. Ta nhớ nhà hắn vẫn còn có người.” Một hồi lâu sau, lại chậm rãi nói tiếp: “—- Ta cũng không tự nguyện tòng quân.”

Hôm ấy chàng đang đào rễ cỏ ngoài thôn. Đại hạn kéo dài liên tục mấy năm, trong ruộng đã chẳng còn thóc mà thu hoạch, chỉ có thể đào động chuột lấy rễ cỏ làm thức ăn. Có vài đoàn quân bại chiến đi ngang qua đường cạnh thôn, chàng không né kịp, liền bị bắt đi làm tráng đinh. Cả đường hành quân phải làm những việc nặng nhất, màn trời chiếu đất, lúc nào cũng bị quyền cước đấm đá. Những tráng đinh trước sau chàng, không ít người còn cường tráng hơn chàng cũng không chịu nổi nửa quãng đường. Những tráng đinh nửa sống nửa chết bị ném tới ven đường, hôm sau đã chẳng còn thấy xác —- không biết là vào bụng con súc sinh… hay là người nào.

Bắc Địch xâm lược, quan quân tiền triều bại hết lần này đến lần khác. Chàng cũng theo đó mà lùi tới mấy trăm dặm, tới tận cực nam mới ổn thỏa được. Khi ấy phái chủ chiến chiếm thượng phong trên triều đình, chàng liền chính thức bị xếp vào trong quân đội, giờ mới sống khá hơn một chút, cũng nhờ được người gửi thư về quê nhà.

Chàng dừng một lát, rồi nới với hồ ly: “… Không lâu sau, hắn gửi cho ta một lời nhắn từ quê nhà. Trước đó hắn cứ ngỡ ta đã chết rồi, bi ai vô cùng. Giờ nghe ta vẫn còn sống, thật sự rất vui mừng.”

Hồ ly rung rung cái tai, hỏi: “Sau đó thế nào?”

Chàng lại nghĩ một lát, lắc đầu nói: “Quên mất rồi… Sau đó, liền quên mất rồi.”

Đêm hôm ấy chàng cuộn người ngủ dưới tượng Thổ Địa Công. Hình như nửa đêm hồ ly có đi ra ngoài, chàng cũng không hỏi nó đi đâu.

Trời vừa tảng sáng, chàng đã bị nông phụ đến thắp hương đánh thức. Có lẽ là do hồ ly thường xuyên hiển linh, các nông phu nông phụ tới bày đồ cúng cũng chịu khó lắm. Hồ ly đã ngồi sau bức tượng từ lâu, đang gặm một quả cống phẩm. Thấy chàng qua, liền dùng móng vuốt đẩy cho chàng một quả.

Hồ ly mở miệng: “Hôm nay nhàn rỗi, bản tiên liền tiễn ngươi một đoạn đường vậy. Vài dặm quanh đây đều là địa bàn của bản tiên, tiễn ngươi đi cũng thuận tiện lắm.”

Chàng nghĩ cũng không có hại gì mình, liền chắp tay cảm tạ, bước đi cùng hồ ly.

Hồ ly hóa thành một nam tử đi cùng chàng. Nó ở đây đã lâu, quỷ hồn thời chiến loạn tiền triều cũng gặp không ít. Lúc chàng hỏi, hồ ly chỉ lắc đầu nói: “Lúc đó thời loạn, quỷ hồn chưa kịp nói hai câu đã bị Âm sai câu đi rồi.” Lại than. “Đa số chết thê thảm lắm.” Rồi hỏi chàng những chuyện thời chiến. Chàng từ từ nghĩ, cũng dần dần nhớ ra vài chuyện, liền kể cho hồ ly nghe.

Bắc Địch tàn bạo, mười dặm chúng đi qua không nơi nào yên ổn. Binh sĩ gánh cả thù nước hận nhà, lại thêm có trốn cũng chẳng còn đường sống, đánh trận liền vô cùng anh dũng, lần nào cũng đều chém giết mãnh liệt. Cứ như vậy nhiều năm, phải chủ hàng lại chiếm thượng phong trong triều, chủ chiến đều bị chém hết để lấy lòng Bắc Địch. Bọn họ thua trận nghìn dặm, quân lính tan tác.

Đêm xuống, chàng lại dừng chân dã ngoại với hồ ly. Hồ ly hóa thành nguyên hình, cúi đầu vái trăng, chàng liền đứng bên nhìn. Hồ ly vái xong, đi tới ngồi xuống bên cạnh chàng, bỗng nói: “Ngươi nhớ ra mình chết thế nào chưa?”

Chàng nhìn chân mình, nghĩ thật lâu mới nói: “… Vết thương ở đây là bị đao chém, khi đó thật sự là đau như xé ruột.”

Tay lại chậm rãi chuyển qua vết thương bên cạnh, thật lâu mới nói tiếp: “… Đây là bị mũi thương đâm, xuyên cả xương.”

“Đây cũng là bị đao chém.”

“Cái này… thật sự không nhớ là bị sao rồi.”

Chàng chậm rãi đếm hết vết thương trên người, cuối cùng mới sờ đến vết trên cổ mình, thật lâu sau mới thở dài. Chàng hỏi hồ ly: “Có một câu mãi không dám hỏi — Bộ dạng của ta bây giờ có phải đáng sợ lắm không?”

Dưới ánh trăng, hồ ly nhìn chàng, chậm chạp lắc đầu.

Chàng liền cười: “Vậy là tốt rồi. Dù ta cũng không nhớ rõ lắm, nhưng vẫn nhớ mang mang hình dáng trước kia của mình cũng đoan chính lắm, bằng không cũng không đến mức vừa vào quân đã bị binh cũ…” Chàng vừa nói đến đây liền biến sắc, im lặng không nói tiếp. Hồ ly cũng không truy hỏi. Hai người cứ vậy mà im lặng cả đêm.

Bình minh lên lại tiếp tục lên đường. Chuyện chàng nhớ được càng ngày càng nhiều. Bên người chẳng còn ai lắng nghe, chàng liền đem chuyện chàng cùng huynh đệ kết nghĩa từng chuyện từng chuyện kể cho hồ ly nghe. Hai người họ vốn là thanh mai trúc mã, huynh kết nghĩa của chàng lớn hơn chàng vài tuổi, từ nhỏ đã như ca ca của chàng. Sau hai người trưởng thành, tình đầu ý hợp, lại do năm xưa gian khổ không cưới được vợ, liền hẹn thề làm phu thê cả một đời.

Chàng kể cho hồ ly nghe chuyện còn bé, làm sao tìm được đồ ăn điền bụng, làm sao tranh đoạt con chim sẻ chết với lũ trẻ cùng thôn. Tuy gian khổ khó khăn, nhưng chỉ cần được ở bên người nọ, đều như trở thành bảo vật. Hồ ly cười mặt chàng cứ như si hán, rồi lại hóa thành một nam tử anh tuấn chọc chàng, bản thân mình cười lăn lộn.

Chàng cứ mặc hồ ly cười, im lặng nhìn ruộng lúa ngoài thành. Chờ đến khi hồ ly cười xong mới nói: “Ngươi nhìn kìa, lúa mạch mọc thật tốt.”

Hồ ly gật đầu. Chàng lại nói: “Cũng phải, nhiều máu thịt như vậy tưới, đồng ruộng sao có thể không tốt.”

Rồi cũng đến một ngày, hồ ly nói: “Ta đi xa quá rồi. Từ đây trở đi, ngươi phải đi một mình thôi.”

Lòng chàng có chút phiền muộn không đành rời xa, nhưng cũng chẳng có cách nào khác, liền chắp tay cảm ta hồ ly. Hồ ly cũng chắp hai móng vuốt lại đáp lễ, rũ mắt nói: “Ta chỉ thấy may mình không sinh ra là người.” Nói xong liền xoay người nhảy mấy cái, đã biến mất tăm tích.

Chàng lại chỉ có một mình, tiến về phía thôn trang ngày xưa.

Các phong cảnh ven đường đã chẳng còn giống như trong trí nhớ của chàng. Thành trấn ruộng hoang ngựa đói, đất khô cằn hôm nay đã thành chốn phồn hoa hưng thịnh người đến người đi. Chàng ôm đống vàng bạc được chúng quỷ chia cho lúc ở trong miếu, nhưng cũng chẳng tiêu đi được chút nào. Hơn nữa lúc đi ngang qua chỗ có người tế tổ tiến, còn được quỷ hồn nhận tế gọi vào, chia cho ít tế phẩm.

Chàng vẫn chẳng biết vì sao mình lại ở đây, nhưng càng gần quê nhà, tâm trạng lại càng bình thản, cứ như đang xem một vở kịch chẳng biết đã xem bao nhiêu lần, chỉ chờ một câu hát cuối cùng là có thể kết thúc, khúc hết người đi.

Rồi một ngày chàng cũng nhìn thấy cây liễu đầu thôn từ phía xa xa. Cây liễu trong hồi ức luôn bị vặt trụi lủi, đến mức có lần chàng còn nghĩ nó không sống nổi rồi. Mà giờ gặp lại, mới biết cây cũng như người. Cho dù có trải qua một hồi thiên tai nhân họa, nhưng vẫn có thể lại mọc chồi vào mùa xuân năm sau, tỏa nhánh xum xuê.

Chàng nhìn cây liễu, bước chân bất giác chậm lại, lòng có chút do dự không biết có nên nghe câu hát cuối cùng lúc này không. Nhưng cuối cùng vẫn tới dưới bóng cây liễu ấy. Dưới gốc cây đặt một lán trà, một bà lão ngồi ở đó, đang đun nước chờ bán.

Bấy giờ đã gần đến hoàng hôn, lán trà chẳng có đến một bóng người. Chàng liền tìm một chỗ ngồi xuống. Bà lão múc trà vào trong chén chờ lạnh, tiện tay đặt tạm một chén trước mặt chàng. Chàng nhìn chén trà sứ thô kệch kia một lúc, không nhịn được mà nhấc lên uống một ngụm. Hương trà tuy thô ráp, nhưng uống vào cổ lại hồi vị kéo dài. Chàng uống thêm hai ngụm, bất giác đã hết nửa chén.

Bà lão ngừng tay, quay đầu tủm tỉm hỏi chàng: “Có ngon không?”

Chàng giật mình sợ hãi: “Bà thấy được ta sao?” Bà lão cười nói: “Trà của bà ngươi cũng đã uống rồi, sao bà lại không thể thấy ngươi?” Chàng ngại ngùng đứng lên, rút nén bạc trong túi ra đặt lên bàn, bà lão cười phẩy tay nói: “Nhiều quá nhiều quá.”

Chàng đáp: “Trên người ta không có tiền đồng, huống chi nén bạc này của ta bà cũng không dùng được.” Bà lão cười nói: “Sao ngươi biết tiền âm phủ bà không dùng được?” Nói xong vẫn cầm lấy nén bạc, vừa cười vừa nói: “—– Cũng được, dù sao trước đây ngươi cũng còn nửa chén tiền trà của bà.”

Chàng giật mình nói: “Lúc nào vậy? Ta thật sự quên mất rồi.” Bà lão lại phẩy tay, cười tủm tỉm: “Bên bờ Vong Xuyên, trước cầu Vãng Sinh, ngươi uống nửa chén trà của bà — Giờ đã nhớ ra chưa?”

Hương trà vào miệng kia như Đề Hồ quán đỉnh vậy, chàng trừng mắt nói: “Canh Mạnh Bà?”

Bà lão nheo mắt cười: “Chính xác, chính xác. Ngươi uống trà của bà, đã quên phân nửa chuyện xưa kia. Chỉ tiếc uống có nửa chén, lại khiến ngươi dần dần nhớ lại. —- Hôm nay vừa đúng đủ một chén rồi.”

Cái chén trong tay chàng rơi thẳng xuống mặt đất, choang một tiếng liền nát bấy.

Bà lão nói: “Khi ấy ta đánh cược với ngươi trước cầu Vãng Sinh, ngươi uống nửa chén canh Mạnh Bà, lúc trở lại nhân gian, nếu có thể tự mình nhớ ra vì sao lại tới đây, bà liền để ngươi hoàn thành chuyện mình muốn làm.” Ngẩng đầu lên nhìn sắc trời ngoài lán trà, lại nói: “Giờ đã đến thời gian ước định. Có điều bát canh Mạnh Bà này uống xong, một lát nữa mới có thể có hiệu quả. Ngươi nếu đã tới tận đây, sao không nhân chút thời gian cuối cùng này cố gắng ngẫm lại, có lẽ có thể nhớ ra?”

Chàng cũng không nghe tiếp nữa, đứng dậy lảo đảo chạy ra ngoài lán.

Tại sao lại tới đây? Tại sao lại tới đây?!!

Chàng thất hồn lạc phách, chạy qua cây liễu từng trèo lên, chạy qua con đường mòn từng vô số lần đi qua trong thôn, chạy qua con giếng cạn giờ tràn đầy nước, chạy qua căn phòng cũ đã mọc lên nhà mới từ lâu. Đồng ruộng ngoài thôn đã từng hoang vu giờ mọc đầy lúa chín vàng óng ả, lòng sông nứt toác khi ấy giờ đang ẩn mình dưới bờ cỏ lau rậm rạp. Chàng chạy thật xa, khi đã vứt bỏ tất cả những thứ này lại phía sau, bỗng cước bộ lảo đảo, vấp té xuống đất.

Chàng cầm lấy cỏ dại trong tay, không biết vì sao, nước mắt bỗng trào ra không ngừng lại được.

Đúng vậy, chàng nhớ ra rồi. Chàng nhớ, người nọ đã chết trước chàng rồi.

Khi Bắc Địch đến quê nhà họ, người nọ vì suất quân kháng địch, bại trận bị bắt lại, treo lên cột gỗ phơi nắng trăm ngày, thi thể mặc cho quạ đen mổ. Phụ nữ và trẻ em trong nhà đều bị giết, vứt thây nơi hoang dã. Sau đó khi Bắc Địch tiến quân về nam, mới có thôn dân may mắn chạy thoát lặng lẽ thu lại thi thể của người nọ, chôn ở phía sau núi.

Chàng ở trong quân, cho rằng mình liều mạng chém giết liền có thể bảo vệ bình an ở quê nhà của người nọ, lại chẳng biết hắn đã chết trước mình từ lâu!

Tới trước cầu Vãng Sinh, nghe quỷ sai kể lại chuyện này, nửa bát canh Mạnh Bà trong tay chàng rơi xuống nát mấy, liều mạng muốn chạy đi. Mạnh Bà cười tủm tỉm nói: “Ngươi muốn đi đâu? Người nọ đã qua cầu này từ lâu rồi.”

Chàng bị quỷ sai chặn lại, lòng tràn đầy tuyệt vọng, chỉ ra sức giãy dụa.

Mạnh Bà liền nói: “Cũng được. Trước khi người nọ qua cầu, cũng từng cược một ván với ta. Hôm nay ta liền cược một lần hệt như vậy với ngươi được không?”

Chàng đáp ứng. Quỷ sai liền đưa chàng về dương gian. Chàng cứ đi, đi mãi, dần dần quên mất hình dáng của Mạnh Bà, quên mất mình chết ra sao, quên mất chuyện trong quân, quên cả chuyện người nọ nắm tay hắn nói cả đời này là phu thê, cuối cùng chàng quên cả cây liễu ngày nhỏ từng cùng nhau trèo đầu thôn. Mở mắt ra chỉ có một mảnh mơ hồ, là khu chợ chốn thịnh thế rồi.

Chàng lau mặt, lảo đảo đứng lên khỏi bụi cỏ, liều mạng chạy về phía sau núi.

Chàng cứ chạy, mỗi khắc chạy liền quên càng nhiều. Chàng không thể nhớ cây liễu kia nữa rồi, không thể nhớ hình dáng của người nọ nữa rồi, không thể nhớ đêm hoa chúc chưa từng có đèn hoa, không thể nhớ một đường hướng về bắc, không thể nhớ chém giết trên chiến trường, không thể nhớ mình đã từng chết một lần, không thể nhớ mình đã từng bước qua chốn thịnh thế thái bình, không nhớ đã từng đặt cược với ai.

Chàng vấp ngã trước một ngôi mộ thấp bé, vươn hai tay ôm chặt lấy ngôi mộ hoang cỏ mọc um tùm kia, úp mặt lên bùn đất.

Chàng quên hết rồi. Quên đây là mộ ai, quên tại sao mình lại ở đây. Nhưng chàng vẫn ôm chặt lấy ngôi mộ kia, như thể không cần bất cứ lý do nào.

“Đúng vậy, ta nhớ ra rồi.” Chàng nói, khi nói những lời này, lúc thốt ra cũng là vĩnh viễn chẳng còn nhớ nữa.

“Xa như vậy, lâu như vậy… chỉ là vì cuối cùng có thể gặp lại huynh một lần.”

-HẾT-

1/4 đầu truyện dịch lâu rồi, hôm nay mới lôi ra dịch nốt phần còn lại.

Vừa dịch vừa nghe Thịnh thế hồi thủ (ED kịch truyền thanh), vừa gõ chữ Hết cũng là lúc hết bài, nước mắt rơi như mưa.

Lâu rồi mình không mít ướt thế này.

Advertisements

Tác giả:

瓶邪教主 - 天下太平邪教发生 天真无邪教主 XD~

Gửi lời yêu thương ♥

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s