Posted in Chiến thất quốc, Đam mỹ

[Chiến thất quốc] Chương 9. Côn Lôn kính – khuôn phép của thời gian

Chương 9. Côn Lôn kính – khuôn phép của thời gian

 

Đến Tân Trịnh, Lý Tư vén rèm xe lên, một luồng nắng sớm óng ánh vàng ùa vào chiếu lên khuôn mặt Hạo Nhiên.

Tử Tân đưa tay che bớt ánh nắng cho Hạo Nhiên. Hạo Nhiên cũng đã tỉnh, bèn hỏi: “Vào thành không?”

Lý Tư trợn trừng đôi mắt đầy tơ máu, nói: “Đi vòng qua cũng được, vào thành cũng được. Vào thành thì bổ sung thêm lương thực và nước uống, còn xem ý hai vị thế nào.”

Tuy là hỏi ý kiến Hạo Nhiên và Tử Tân, nhưng ý tứ trong lời nói của Lý Tư đã hết sức rõ ràng.

Nước Hàn nằm giữa Tần, Sở và Tề, đất hẹp người thưa, nếu đi qua thành Tân Trịnh mà không vào, sau muốn tìm thôn xóm nào đó để mua lương thực, chẳng biết phải đi mất bao lâu mới tìm được nổi.

Tử Tân trầm ngâm giây lát, tiện hỏi: “Hàn Phi ở trong thành?”

Lý Tư đáp: “Sư huynh đến nước Ngụy vay lương thực rồi.”

Hạo Nhiên vươn vai một cái, bảo: “Lấy Côn Lôn kính ra ta xem thử.”

Lý Tư vội can: “Vật ấy không thể tùy tiện dùng…” Nói chưa xong, Côn Lôn kính đã bị Hạo Nhiên khéo léo quơ đi mất.

Tử Tân cười bảo: “Không ngại. Thế gian ai cũng sợ cổ khí phản phệ, chỉ có y là không sợ đó.”

Lý Tư nghi hoặc hỏi: “Thế là ý gì?”

Tử Tân cười đáp: “Y là tổ tông của mọi pháp bảo trong thiên hạ.”

Hạo Nhiên liếc xéo Tử Tân, tiện thể chòng ghẹo: “Thần nào có tài đức gì, văn không dùng được, võ cũng chẳng thành, mài hòn mực còn làm bắn mực lên mặt người ta, sao dám so bì với Đại vương một thân bá khí?” Vừa nói y vừa đưa tay lướt nhẹ lên mặt Côn Lôn kính.

Trong Côn Lôn kính hiện lên cảnh một vùng non xanh nước biếc. Hạo Nhiên hơi nhíu mày, hỏi: “Đây là đâu thế?”

Nắng trời rải trên mặt kính, cảnh tượng lại biến ảo, hiện ra những mái nhà lợp ngói, ánh ban mai nơi non nước không ngừng nhảy nhót trên những nóc nhà.

Hạo Nhiên cả giận nói: “Cái đồ chơi hỏng này sao thế, giật gì chứ, mau để người ta xem rõ chút coi.”

Vầng sáng trong kính tức thì lóe lên, hiện ra toàn cảnh thành Tân Trịnh. Ba người đã hiểu, vẫn phải vào thành thôi.

Đang lúc xuân hạ giao mùa, ngoài thành, ngàn dặm đất ruộng toàn là những người nông dân đang bận rộn cày cấy trồng trọt. Lý Tư đứng ngoài thành Tân Trịnh, đưa ra thẻ bài, vệ binh giữ cửa liền để xe ngựa tiến vào thành.

Hạo Nhiên vén tấm mành cửa lên, trông ra ngoài trộm xem toàn cảnh thành Tân Trịnh. Bên ngoài những căn nhà lớn nhỏ trong thành đều treo đầy những tấm gỗ buộc thừng.

Hạo Nhiên liền tò mò hỏi: “Cái đống rách nát ở bên đường kia dùng để làm gì?”

Lý Tư nhìn theo ánh mắt Hạo Nhiên, trả lời: “Đó là cơ quan máy cày của Mặc gia.”

Mấy cái lồng gỗ trông y hệt xe chở tù phạm được xếp chồng chất ở một chỗ, có binh sĩ mang đuốc đến, đem đốt đi, khói cuộn lên dày đặc khiến cư dân trong thành cứ chỉ chỉ trỏ trỏ.

Hạo Nhiên hỏi: “Máy cày? Có thể tự động cày đất, gieo hạt?”

Lý Tư gật đầu nói: “Mặc gia và Pháp gia ta vốn có hiềm khích đã lâu, lần này Hàn sư huynh thà hạ mình sang nước Ngụy mượn lương, cũng không chịu khuất phục trước Mặc gia.”

Chẳng mấy chốc ba người đã vào thành, tìm một gian khách điếm nhỏ, ngồi xuống gọi rượu thịt, nghỉ ngơi một chút. Lý Tư lại lấy ít tiền đồng, gọi lão bản ở khách điếm đến giúp mua ít đồ, sau đó mới thuật lại kỹ càng về chuyện Mặc gia.

Tân Trịnh vốn không sung túc lắm, tuy là chốn kinh đô nhưng trong khách điếm nhỏ này lại vắng vẻ quạnh quẽ. Tảng sáng lão bản mới mở cửa quét dọn giường chõng, trong góc chỉ có vài người trẻ tuổi ăn vận giản dị ngồi đối nhau uống rượu.

Tử Tân quét mắt nhìn qua, cảm thấy dị thường nhưng cũng không nói nhiều lời, chỉ ra hiệu cho Lý Tư nói về chuyện nước Hàn.

Mặc gia khởi nguồn tại nước Hàn, cũng về cội tại nước Hàn. Nguyên quán xuất thân của ông tổ Mặc gia –  là Mặc Tử – đã không thể khảo cứu được nữa, cũng không được các môn đệ ghi lại, chỉ biết rằng, sau khi từ quan ở nước Tống, ông liền dẫn môn đệ một đường bôn ba đến nước Hàn.

Tài năng của Mặc Tử cùng một vị thợ mộc thần kỳ cũng trong thời Xuân Thu khác là Công Thâu Ban chẳng phân cao thấp, cơ quan thuật và kỹ thuật mộc tay điêu luyện đã trở thành một sức mạnh to lớn đủ để giúp nước Hàn kháng cự lại các nước khác. Thuở ấy có câu nói: “Nỏ mạnh trong thiên hạ đều xuất phát từ Hàn, thép nhọn của Hàn đều xuất phát từ Mặc” là vì vậy.

Đệ tử đứng đầu của Mặc Tử là Cầm Hoạt Ly học luyện theo đường “kỹ thuật”, sau khi Mặc Tử tạ thế thì được chọn lên gánh vác trọng trách chấn hưng Mặc môn; đệ tử thứ hai là Phụ Tử Triệt thì thiên về đường hiệp nghĩa, lấy việc sử kiếm làm chính.

Cũng tại Mặc Tử già nên hồ đồ, thời điểm nhắm mắt xuôi tay về Tây phương cực lạc lại chẳng nói rõ là là ai có thể tiếp nhận ngôi vị Cự Tử[1], vì vậy hai kẻ Cầm Hoạt Ly cùng Phụ Tử Triệt, nhằm tranh đoạt cái ghế chưởng môn Mặc gia, đã đấu một trận đại quyết chiến rầm rầm rộ rộ ngoài thành Tân Trịnh.

Cầm Hoạt Ly dùng vô số cơ quan gỗ đá, dốc toàn bộ vốn liếng giao đấu với phi kiếm đầy trời của Phụ Tử Triệt, mải mê đấu đá ba ngày ba đêm, cuối cùng chặt đứt một cánh tay của Phụ Tử Triệt, đuổi hắn ra khỏi nước Hàn, cả đời không được trở lại Mặc môn nữa.

“Đợi đã, Cự Tử?” Hạo Nhiên nghi hoặc hỏi: “Cự Tử nghĩa là sao?”

Lý Tư đáp: “Cự Tử chính là biểu tượng quyền lực tối cao của Mặc môn. Mặc Thánh từng nói rõ, ai có thể đạt được thánh khí Cự kính, liền là…”

Hạo Nhiên dở khóc dở cười: “Côn Lôn kính này từ lúc nào lại biến thành thánh khí của Mặc gia rồi?”

Từ Tân uể oải nói: “Bằng không ngươi nói Mặc gia, Pháp gia sống chết đấu đá là vì cái chi.”

Lý Tư mỉm cười nói: “Cũng không hoàn toàn là bởi vì thần kính này.”

Đến khi Cầm Hoạt Ly đuổi được Phụ Tử Triệt đi rồi, hơn mười năm sau khi sắp xếp ổn thỏa được các môn đồ, uy danh Mặc gia như mặt trời ban trưa, dùng “hắc hỏa” làm căn nguyên, phát động các loại cơ quan, giúp nhân dân nước Hàn rất nhiều điều tiện lợi.

Danh tiếng quá lớn tự nhiên sẽ dẫn tới việc bị kẻ cầm quyền nghị kỵ cùng bất mãn. Tướng quốc đương triều Thân Bất Hại muốn chèn ép bớt uy danh của Mặc gia, bèn âm thầm bồi dưỡng chúng thần Pháp gia. Khi Thương Ưởng bị ngũ mã phanh thây ở Tần, các môn đồ bỏ trốn tứ tán, trong đó có một kẻ mang theo Côn Lôn kính đến Hàn.

Pháp gia nắm được một Côn Lôn kính có thể biết trước tương lai trong tay, khác chi có được một thứ vũ khí cực kỳ sắc bén, đi một bước, biết mười bước, trải qua vài năm liền nảy chồi vươn nhánh tại nước Hàn, dần dần lớn mạnh.

Truyền hơn trăm năm đến tận ngày hôm nay, năm đó kẻ xúc tiến trận tranh đấu này là hai người Thân Bất Hại và Hàn Chiêu Hầu dù có trăm triệu lần cũng không thể lường được rằng Pháp gia và Mặc gia lại hình thành thế cục như nước với lửa đến vậy. Hàn Phi xuất thân từ vương thất nước Hàn, là một trong những công tử[2] được Hàn vương sủng ái nhất. Người thông minh tài trí này lại đầu nhập Pháp gia, khác nào một sự đả kích rất lớn đối với Mặc môn.

Tử Tân lên tiếng: “Hiệp khách dùng võ phạm điều cấm, Nho giả dùng văn loạn pháp luật.”

Lý Tư gật đầu bảo: “Đúng là câu trong Ngũ Đố của sư huynh.”

Tử Tân thấy Hạo Nhiên chỗ hiểu chỗ không, liền cười mà giảng giải: “Hàn Phi vì bồi dưỡng Pháp gia, nên đặc biệt viết Ngũ Đố, khuyến cáo quân vương thiên hạ rằng nếu muốn giữ chắc ngôi vị, tất phải chỉnh đốn năm loại người trước.”

Hạo Nhiên đã hiểu rõ ràng hai câu kia, bèn phì cười bảo: “Nho gia và Mặc gia đương nhiên là phải đứng mũi chịu sào rồi.”

Tử Tân gật đầu đáp: “Không sai. Y cho rằng những người này đều là mọt gạo đòi ăn chờ chết. Tỷ như: bọn nho sinh, bọn hiệp khách, bọn du thuyết phái Tung Hoành gia[3] như Tô Tần, bọn thực khách[4] như Mao Toại, cũng chính là bọn môn khách ăn bám nhà quý tộc, còn có một loại nữa, là bọn dân công thương[5].”

Hạo Nhiên và Tử Tân nhìn nhau mỉm cười, hai bên đã rõ lòng nhau, đều minh bạch suy nghĩ của đối phương.

Nếu thực phải làm theo lời Hàn Phi nói, thì Lã Bất Vi nhân huynh cũng là “dân làm công thương” rồi, chung quy không chạy thoát khỏi cảnh phải mất đầu. Những luận điệu này có lẽ ở nước Hàn còn có khả thi, chứ với sáu nước còn lại thì trăm triệu lần cũng chẳng ăn thua.

Lý Tư lòng đầy hứng khởi, nói: “Hiên Viên thái phó thực là tài trí uyên bác, Lý Tư xin cam bái hạ phong.”

Tử Tân khiêm nhường đáp: “Chẳng qua chỉ là công phu chót lưỡi đầu môi, luận về những chuyện như máy móc cơ quan, Tử Tân chính là dốt đặc cán mai. Hạo Nhiên thông hiểu năng lực ngự kiếm, trên thực tế so với Tử Tân còn hiểu biết hơn nhiều.”

Tử Tân cho Hạo Nhiên một ánh mắt ra hiệu, rồi lại nhìn về phía mấy người trong góc.

Hạo Nhiên đưa mắt liếc qua, thấy mấy người trẻ tuổi kia vẻ mặt đều bất an, liền đoán trước được quá nửa rằng đó chính là đệ tử Mặc gia bị Pháp gia truy sát. Đang lúc ngẫm nghĩ phải làm thế nào mới chọc họ mở miệng được, lại nghe một người trong đó nói: “Mới vừa nghe nhân huynh bàn luận sâu xa, kẻ hèn trong tâm vô cùng ngưỡng mộ, lại chưa thỉnh giáo quý tính đại danh?”

Tử Tân làm ra thủ thế “mời”. Người nam tử trẻ tuổi kia đứng dậy sải bước đi tới. Dù thân khoác áo vải thô, hai chân để trần, mái tóc búi bằng trâm cỏ, trong lời nói lại mang ý vị phóng khoáng, đích thị là môn đồ Mặc gia không thể nghi ngờ gì nữa.

“Tại hạ là Thủy Giám, Cự Tử Mặc gia đời thứ sáu. Mặc gia hai phái cơ quan và phi kiếm chia tách đã lâu.”

Nam tử kia điềm đạm như nước chảy mây trôi, nói ra câu mào đầu: “Vừa rồi nghe nói nơi này có người thông hiểu thuật ngự kiếm, phải chăng là vị tiểu huynh đệ này?”

Lý Tư trầm ngâm một lát rồi cười bảo: “Thì ra là Thủy Giám huynh. Xem ra Lý Tư  đã nhìn lầm, vậy thì xin cáo từ.” Đang lúc muốn lánh đi thì Thủy Giám lại nói: “Chớ ngại, đây chính là nơi Mặc môn ta thiết lập, vốn không nguy hiểm, đợi ta an bài là được.”

Thủy Giám gập ngón tay gõ trên mặt sàn gỗ, gõ liền ba tiếng rồi ngưng, sau đó lại là ba tiếng.

Mặt đất trong khách điếm chấn động, Lý Tư tức thì biến sắc, khay chén trên bàn nghiêng ngả gõ leng keng. Một lát sau mọi người ngồi vững được thì quả có thấy cảnh sắc ngoài song cửa đã thấp xuống.

Mái hiên bên đường chầm chậm hạ xuống, khách điếm nơi góc đường quả thật không ngừng cao lên, bốn cây cột gỗ gấp khúc giương ra, làm thành chân gỗ gấp khúc chữ “chi” (之) để chống đỡ cho căn nhà lớn, một bước sải dài mấy trượng, đi ra ngoài phố lớn!

Thủy Giám cười: “Muốn đến chỗ nào? Đừng ngại, để ta đưa các vị đi một đoạn.”

Hạo Nhiên trần ngâm giây lát, biết vị chưởng môn Mặc Môn trẻ tuổi này có chuyện cầu đến mình, liền cũng không khách khí nhiều, gọi Lý Tư, bảo: “Lấy kính tới đây.”

Lý Tư cũng rộng rãi, biết có Tử Tân Hạo Nhiên hai người ở đây, Thủy Giám dù có ý muốn đoạt kính cũng sẽ không dám trắng trợn cướp, liền móc lấy Côn Lôn kính ra từ trong ngực, đặt ở trên bàn.

Thủy Giám hơi lấy làm lạ, hỏi: “Cự kính?”

Hạo Nhiên gật đầu, cười đáp: “Thế nào? Tung đồng xu cược thắng bại một lần, thắng thì cho ngươi nhé?”

Thủy Giám trêu chọc: “Ngươi có cự kính trong tay, đánh cuộc thế nào mà chẳng thua, khi không sao lại đùa giỡn huynh đệ như thế.” Ý trong lời nói, lại không có bao nhiêu hứng thú với thánh khí người người thèm muốn.

Hạo Nhiên cười cợt lấy lòng bàn tay xoa nhẹ mặt kính, nói: “Thủy Giám huynh có nhận ra nơi này?”

Trong Côn Lôn kính chiếu ra một phong cảnh núi rừng, chính là cái cảnh mới nãy ba người nhìn thấy khi ở trên xe ngựa.

Thủy Giám nhìn một hồi, liền biết nội tình trong đó, bèn căn dặn lão bản khách điếm: “Bảo bọn trẻ đến Hiên Viên điện trên núi Thủ Dương.”

Tử Tân cùng Hạo nhiên cùng lúc động dung hỏi: “Nơi nọ chính là núi Thủ Dương?!”

Hạo Nhiên cùng Thủy Giám bàn luận thuật ngự kiếm ở dưới tầng trệt, Lý Tư nghỉ ngơi ở trên tầng hai, Hiên Viên Tử Tân lại cầm Côn Lôn kính trong tay, ngồi trên mái nhà của khách điếm, lẳng lặng đưa mắt nhìn rặng núi trùng trùng điệp điệp nơi phương xa.

Căn nhà bằng máy này tinh xảo đến đoạt tài trời, được chế tạo từ bản vẽ do Mặc tử đích thân truyền lại, có tên là “đạp nỏ”, trên bốn mặt tường hướng ra ngoài lắp vô số nỏ khỏe cung mạnh, hơn nữa còn có những quả cầu lăn kỳ dị đính kèm những móc câu lưới sắt, có thể thấy rõ đây là một cỗ máy cao cấp tiến có thể công, lùi có thể thủ.

Căn nhà to kềnh càng này đi lại bằng bốn cái chân gỗ, cưỡi gió ào ào, chưa hết nửa ngày đã bỏ thành Tân Trịnh lại xa lắc phía sau lưng, đạp trên đường mòn, băng qua suối dài đến bên bờ Hoàng Hà, cuối cùng bước vào trong nước, nương theo nước sông Hoàng cuồn cuộn chảy xuôi, bảy nổi ba chìm trên mặt nước, trôi về phía hạ du.

Một tia sáng đỏ ối cuối cùng của thời khắc ngày tàn chuyển tới, Tử Tân ngồi xếp bằng yên tĩnh, đỡ Côn Lôn kính ngay ngắn, mặt hướng về phía Hoàng Hà cuồn cuộn sóng lớn, hai mắt mở to.

Hắn trợn mắt nhìn mặt kính, cặp đồng tử kia như sáng ngời trăng trong giếng cổ, chậm rãi nói: “Cho ta đáp án.”

Côn Lôn kính lại tránh né vắn đề hắn hỏi. Hào quang trong kính lưu chuyển, nhảy nhót, sau cùng đưa ra vài cảnh tượng biến ảo đan xen.

Thinh không đỏ rực như lửa, hằng hà vô số những ngôi sao băng cháy rực rít gào ầm ầm rơi xuống mặt đất, trên đỉnh trời có hai con mắt khổng lồ mở to, một luồng huyết quang rộng lớn phóng tới xông thẳng về phía Hạo Nhiên. Hạo Nhiên hai tay nâng ngang thân kiếm, trầy trật chống chọi lại luồng hào quang nọ.

Sau vài hơi thở, tất cả đều tối sầm.

Hạo Nhiên cùng một người nam tử áo trắng sóng vai đứng trên nền đất phẳng. Tử Tân xoay mình rời đi, tiến vào trong hắc ám vô biên vô hạn. Ánh sáng thu hẹp lại, lần nữa hóa mịt mù.

“Đó là ai?” Tử Tân chỉ thấy được bóng lưng nam tử áo trắng, không khỏi nghi hoặc hỏi.

Thế nhưng Côn Lôn kính cũng không giải đáp nghi vấn cho hắn, cảnh tượng lại biến hóa.

Đất trời hỗn mang, Hạo Nhiên từ trời cao lao xuống, dẫn theo luồng sáng trắng vô tiền khoáng hậu, đánh ra một quyền!

Trên mặt đất, Tử Tân lấy ra một vật bằng ngọc thạch lớn cỡ nắm tay, một tay đẩy về trước, ngăn ở trước mặt!

Tử Tân hít thật sâu một hơi, nói: “Đây là chuyện tương lai? Tương lai của bao giờ?”

Côn Lôn kính hào quang thoắt ẩn, Hạo Nhiên quấn mình trong bạch quang, Tử Tân toàn thân phóng ra kim quang, hai người va chạm vào nhau, ngay sau đó cảnh trong kính đột nhiên thay đổi.

Giữa đồng hoang mênh mông tịch mịch, một trận gió thổi qua, hất phần phật góc áo Hạo Nhiên. Y lẳng lặng quỳ tại chính giữa bình nguyên, bị một thanh kiếm lớn ánh lên sắc vàng đâm xuyên vào lồng ngực, một tay lại vẫn giữ nguyên tư thế nắm chặt.

Chuôi Hiên Viên kiếm nhô ra trên thân thể y, Hạo Nhiên chầm chậm cúi gục đầu.

Tử Tân ngờ vực hỏi: “Chẳng phải hai trận pháp Thất Khước và Hư Không đó ư, rốt cuộc là thế nào vậy?”

Khi tia sáng trong kính lại bừng lên, là gió xuân đầy đồng, biển hoa vạn dặm, một màu biếc xanh bát ngát phủ ngập thế gian. Trong bụi cỏ có một chiếc chuông ngọc màu trắng lớn cỡ bàn tay lẳng lặng nằm, cùng một thanh kiếm lớn tỏa ánh kim quang.

Hết thảy đều tối sầm xuống.

.

“Đang xem gì vậy?” Hạo Nhiên cười hỏi, từ phía sau ôm lấy cổ Tử Tân, kế đó liền thắc mắc: “Làm sao thế? Mồ hôi lạnh đầy mình kìa?”

Tử Tân yên lặng một hồi, rồi đáp: “Không sao… mới vừa rồi… Hạo Nhiên?”

Hạo Nhiên thập phần nghi hoặc, nhìn Tử Tân một lúc, cười hỏi: “Hôn quân, người đang nhìn gì đó?”

Tử Tân mờ mịt lắc đầu, trong đầu vẫn là cảnh tượng Hạo Nhiên bị Hiên Viên kiếm đâm xuyên qua ngực, quỵ ngã giữa bình nguyên. Toàn thân hắn run rẩy không ngừng.

“Ta… ta đang suy nghĩ chút chuyện.” Tử Tân vắt kiệt sức lực khiến thanh âm bản thân bình ổn lại, đến cuối cùng cũng chẳng nói điều gì.

Hắn thu hồi Côn Lôn kính, ôm Hạo Nhiên vào lòng, nói: “Mà thôi, tạm thời không nghĩ đến nó nữa.”

Tử Tân nhắm đôi mắt mỏi mệt, lẳng lặng cùng Hạo Nhiên dựa sát vào nhau.

.

.

Chú thích.

[1] Các đệ tử đời sau kế nhiệm Mặc Tử đều xưng là Cự Tử. Những đệ tử Mặc Gia muốn trở thành Cự Tử đều phải trải qua một cuộc sát hạch rất khắc nghiệt để thể hiện khả năng của bản thân. Một đệ tử muốn trở thành Cự Tử thì phải là người văn võ song toàn, có cả trí tuệ lẫn võ công cao cường. Nguồn: wikipedia.

Btw không liên quan nhưng Cầm Hoạt Ly là đệ tử yêu của Mặc Tử, luôn luôn lẳng lặng đi theo sau Mặc Tử, tình tri ngộ như thầy trò, như cha con, như huynh đệ. Cầm Hoạt Ly tài năng xuất chúng giữa đám môn đệ, Mặc Tử đối với Cầm Hoạt Ly luôn ân cần dạy bảo, đem sở học suốt đời truyền thụ cho, thiên cổ tri âm chính là vậy. :”>

[2] Danh xưng “công tử” thời Tiên Tần để chỉ con trai của chư hầu.

[3] Tung Hoành gia là phái của các nhà du thuyết, a.k.a. buôn nước bọt, đi nước nọ nước kia tiến cử lý thuyết của mình với các loại vua chúa. Cái tên Tung Hoành là bắt nguồn từ hai thuyết Hợp tung của Tô Tần và Liên hoành của Trương Nghi, chủ yếu xoay quanh việc liên minh với Tần hay liên minh với nhau đánh Tần chấm hết :v. Hai thuyết này tuy đối chọi nhau chan chát nhưng vì hai người Tô, Trương đều cùng một thầy dạy thuật du thuyết là Quỷ Cốc Tử, cho nên có thể nói ông tổ của Tung Hoành gia là Quỷ Cốc Tử, nhưng đóng góp nhiều nhất và tiêu biểu nhất cho Tung Hoành gia lại là hai người Tô, Trương.

[4] Nguyên là 患御者 (hoạn ngự giả), nghĩa hẹp trên mặt chữ là những kẻ sợ phục binh dịch, nghĩa rộng là những tay thực khách chuyên ăn dầm nằm dề ở các nhà giàu có để né tránh các trách nhiệm xã hội.

[5] thương nhân và thợ thủ công.

One thought on “[Chiến thất quốc] Chương 9. Côn Lôn kính – khuôn phép của thời gian

Gửi lời yêu thương ♥

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s