Posted in Minh nguyệt chiếu nghê thường (hoàn), Thuỷ Tinh Đăng hệ liệt, Đam mỹ

Minh nguyệt chiếu nghê thường – C5

Minh Nguyệt Chiếu Nghê Thường

Tác giả: Mộc Vũ Linh Âm
Biên tập: Triêu Nhan

Chương 5: Lời thề Tam Sinh

Mồng năm tháng mười, là Thánh đản của tổ sư Đạt Ma. Linh Ẩn Tự ở Lâm An treo đầy bảo cái phấp phới, la liệt đèn nến hoa tươi, thiện nam tín nữ đi chùa nhiều như mây.

Tổ sư Đạt Ma chính là Bồ Đề Đạt Ma, là thủy tổ của Thiền tông Phật môn. Vì vậy nên vào ngày sinh của sư tổ, các cao tăng đại đức của Thiền tông nam bắc đều tề tựu. Thánh cư sĩ Tử Du ở bên ngoài bôn ba mấy tháng cũng quay về Linh Ẩn tự, tham gia pháp hội Đản thần của sư tổ.

Thời Tống Kim, hai nước phân chia nam bắc mà cai trị, Thiền tông ở hai miền nam bắc lúc này cũng có không ít mâu thuẫn phân tranh. Lần này Ngũ gia thất phái hầu như đều có đại diện tham gia, đối mặt với dã tâm xâm nhập xuống phía nam rất rõ ràng của hoàng đế Kim quốc Hoàn Nhan Lượng, Thiền tông các phái đều lo lắng không ngớt, nhưng biện pháp đối phó lại bất đồng, hơn nữa ai cũng cố chấp theo ý mình, không cam lòng tỏ ra yếu kém. Tử Du nghe bọn họ tranh cãi mấy canh giờ vẫn chưa ngã ngũ, bèn lặng lẽ rời khỏi đại điện.

Lúc đi qua hành lang gấp khúc, y nhìn thấy ở thềm đá bên ngoài Thiên Vương điện có một người thiếu phụ quỳ lạy trên bậc thang, mỗi bước mỗi dập đầu thành kính. Y đến gần, thấy rõ thiếu phụ mặc một thân áo vải, phục sức giản đơn, dung nhan tiều tụy, sắc mặt đúng là có bệnh. Tử Du động lòng trắc ẩn, ôn hoà hỏi: “Vị nữ thí chủ này, ngươi sở cầu chuyện gì?”

Thiếu phụ thấy y dù chưa quy y, nhưng dáng vẻ bất phàm, cũng không dám khinh thường, nhỏ giọng nói: “Phu quân của tiểu phụ làm một chức nhỏ trong quân đội, cùng theo quân ta ra trận, Lý tướng quân tuy rằng không thua, nhưng thuộc hạ đã có không ít người thương vong, ta rất lo lắng phu quân, chỉ có thể thành tâm cầu khẩn Phật tổ, chỉ cần phu quân bình an vô sự, ta cam nguyện lấy mệnh mình thay hắn tạ ơn.”

Tử Du nói: “Nữ thí chủ, người an tâm đi. Phu quân người bảo vệ quốc gia, nhất định là cát nhân thiên tướng.”

Y đã đi xa, nhìn lại vẫn thấy thiếu phụ kia quỳ mãi trước đại điện không dậy, còn lẩm bẩm nói: “Chu lang Chu lang, chúng ta từng ước định trước Tam Sinh thạch, kiếp này kiếp sau, quyết không chia lìa, chàng nhất định phải bình an trở về.”

Tử Du nhớ đến, Tam Sinh Thạch nằm ngay phía đông nơi tiếp giáp giữa núi Phi Lai và núi Thiên Hoa, cách Linh Ẩn Tự và Thiên Trúc Tự không tính xa, cũng xem như một thắng cảnh của Tây Hồ. Nó gắn liền với truyền thuyết nổi tiếng về Lý Nguyên và thiền sư Viên Trạch thời Đường, đại học sĩ Tô Đông Pha đã viết “Tăng Viên Trạch Truyện” kể lại câu chuyện này. Tử Du tuy rằng quanh năm sống nhờ Linh Ẩn Tự, nhưng chưa từng để ý đến. Lúc này đột nhiên nhớ ra, trong lúc nhàm chán y bèn lững thững dạo tới nơi đó.

Theo truyền thuyết, công tử Lý Nguyên và thiền sư Viên Trạch là một đôi bạn tốt tâm đầu ý hợp, hai người hẹn nhau cùng đi du ngoạn đến núi Thanh Thành và Nga Mi ở Tứ Xuyên. Viên Trạch muốn đi đường bộ, nhưng Lý Nguyên lại muốn đi đường thuỷ ngắm cảnh ven sông. Cuối cùng, Viên Trạch bất đắc dĩ nghe theo ý kiến của bạn, chọn con đường thủy. Hai người đi thuyền tới Nam Phổ, gặp phải một người phụ nữ giặt áo bên sông. Viên Trạch rơi lệ nói cho Lý Nguyên biết, mình nhất định phải đầu thai làm con nàng, mà mình vì muốn kéo dài duyên phận với Lý Nguyên, nên làm chậm trễ người phụ nữ nọ, khiến nàng mang thai ba năm vẫn chưa thể sinh, nhưng hiện tại nếu đã gặp mặt thì không cách nào trốn tránh được nữa. Vì vậy hẹn đêm Trung thu mười ba năm sau, hai người có duyên sẽ gặp lại tại phụ cận của chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu, sau đó Viên Trạch nhắm mắt qua đời.

Quả nhiên, mười ba năm sau, Lý Nguyên gặp một mục đồng ngồi trên lưng trâu ở bên ngoài Thiên Trúc Tự, chính là thiền sư Viên Trạch đầu thai chuyển thế. Hai người chưa dứt tiền duyên, nhưng chỉ có thể vội vã gặp nhau một mặt, rơi lệ ly biệt. Hậu thế bèn gọi nơi mà năm xưa họ gặp gỡ là “Tam Sinh thạch”.

Tử Du men theo đường nhỏ, chỉ chốc lát đã gặp được tảng đá trong truyền thuyết kia. Tảng đá bình thường không có gì đặc biệt, mặt trên có khắc ba chữ “Tam Sinh Thạch” bằng kiểu chữ Triện to cỡ miệng bát, còn có không ít bằng hữu tri kỷ hoặc thanh niên nam nữ cùng nhau viết tên mình lên đá, có một số chữ viết đã không rõ. Cũng có không ít thi sĩ mặc khách tức cảnh sinh tình viết lưu niệm.

Thịnh hành nhất có lẽ là câu nói “trên Tam Sinh Thạch đính ước uyên ương”, câu tục ngữ này lưu truyền rất rộng, bên cạnh còn có một ngôi từ đường nho nhỏ thờ Nguyệt lão. Trên cửa từ đường treo một cặp câu đối: Nguyện người hữu tình trong thiên hạ đều thành thân thuộc, là kiếp trước đã định đừng để lỡ nhân duyên.

Từ đường Nguyệt lão nho nhỏ nhưng khói hương nghi ngút, thỉnh thoảng lại có nam nữ thanh niên cùng nhau đi vào cúng bái xin xâm. Ngay cả thiện nam tín nữ từ Linh Ẩn tự hoặc Thượng Thiên Trúc tự đi ra, đa số cũng ôm tâm trạng “Thà rằng tin là có, chứ không thể không tin”, theo lệ cũng đi vào thăm viếng.Tiểu sa di đứng trước cửa miếu Nguyệt lão thu tiền nhang đèn của mọi người, thu đến nỗi tay đều mỏi nhừ. Tử Du trố mắt nhìn, nói không nên lời, nghĩ thầm: cho dù là lễ lớn như lễ Tắm Phật và Đản thần Sơ Tổ thì Linh Ẩn tự của chúng ta cũng không có được nhiều khách hành hương như vậy. Quả nhiên đạo thuật luôn có sở trường, tiền nhang đèn của Nguyệt lão thật đúng là dễ kiếm!

Lúc này ánh mắt y bỗng thoáng bắt gặp mấy thiếu nữ từ trong miếu đi ra, xinh đẹp tú lệ, thì ra là bốn mỹ tỳ Mai Lan Trúc Cúc bên người Triệu Thuyên.

Tử Du sửng sốt, lập tức nghiêng người trốn vào sau một thân cây, bên tai vẫn kín đáo nghe được tiếng cười nói của các thiếu nữ.

“Mai tỷ tỷ, ta thấy vừa nãy tỷ ở trước tượng Nguyệt lão lẩm bẩm cái gì, không phải là động xuân tâm đó chứ? Ha ha.”

“Tiểu ny tử (cô gái nhỏ) đừng nói bậy! Hắc hắc, ta nha, là cầu nguyện cho quân hầu của chúng ta.”

“Đúng đó đúng đó, tội nghiệp quân hầu cứ trông mong hy vọng Tử Du cư sĩ đến thăm hắn, kết quả đợi đến hoa tàn cũng chẳng thấy người đâu. Lần này nhận được thiệp mời đến dự Đản thần sơ tổ của Thiền tông Ngũ gia thất phái, vui mừng quên hết mọi thứ, vội vàng chạy đến đây, lại gặp phải chuyện của chưởng giáo Hạc Không Không nên phải đình lại, sợ là sốt ruột đến nỗi ruột cũng đen luôn rồi.”

“Tiểu Trúc, ngươi đừng nói bậy sau lưng quân hầu, cẩn thận quân hầu nghe được phạt ngươi.”

“Không sao! Chúng ta cứ yên tâm đi. Dù sao quân hầu cũng đã chạy đến Lâm An, lát nữa nhìn thấy Tử Du cư sĩ, còn không mừng đến tâm đều nở hoa, làm sao có thời gian rảnh rỗi phạt chúng ta!”

Tử Du nghe vậy cảm thấy mặt nóng lên, thầm nghĩ bốn nữ tỳ của Thái Hoa thực sự là bị hắn dung túng đến vô pháp vô thiên rồi.

Chỉ là nghe xong lời của các nữ tỳ y lại càng không tiện đi ra gặp mặt, trong lòng có chút xấu hổ. Chính vào lúc này, phía sau truyền đến một tiếng động nhỏ, một đôi tay ấm áp bỗng nhiên che lại hai mắt y, bàn tay lần tràng hạt của y đang định trở tay chém ra, nhưng trong lòng chợt cảm thấy áy náy, lại buông tay. Chỉ nghe người nọ ở phía sau cười nói: “Tử Du, đoán xem ta là ai?”

Giọng nói quen thuộc, điệu cười khiến người ta muốn đánh, ngoại trừ Thái Hoa Hầu Triệu Thuyên còn có thể là ai?

Nâng tay định hất tay hắn ra, thế nhưng người nọ lại to gan ghé lại gần, hầu như ôm trọn y vào lòng, nhiệt độ ấm áp toả ra từ bàn tay đang bịt hai mắt y và vùng lưng kề sát chậm rãi truyền khắp tứ chi xương cốt, cảm giác ấm dào dạt này khiến y thấy thật dễ chịu. Người nọ ghé vào bên tai y, bỡn cợt thì thầm, ôn nhu lưu luyến: “Ôi chao, Tử Du nha, đã lâu không gặp, có nhớ ta không?”

Tử Du rất muốn đánh hắn một cái thật đau, bất đắc dĩ bốn tiểu nha đầu vẫn còn ở bên kia líu ríu, y thực sự không muốn bị các nàng phát hiện lại thêm ra một chuyện chê cười nào nữa, chỉ có thể nhỏ giọng nói: “Mau buông.”

“Ai, vì sao? Hiện tại Tử Du chẳng phải đang cùng bản hầu thử tìm hiểu tâm ái dục của người đời hay sao? Tình nhân với nhau không phải là nên thân thiết như vậy sao?” Triệu Thuyên mỉm cười đưa tình, thì thầm bên tai y, hơi thở ấm áp quanh quẩn sau cổ, cảm giác tê dại lại ôn nhuyễn lạ lùng không ngừng nảy lên trong lòng.

Thấy y không nổi giận, Triệu Thuyên được một tấc lại muốn một thước, gác cằm lên vai y, kề vai sát cổ triền miên, giống hệt uyên ương, cười nói: “Tử Du, hai chúng ta có phải là tâm linh tương thông không? Ngay cả cửu biệt gặp lại cũng là ở trước Tam Sinh thạch, có thể thấy ngay cả trời cao cũng thừa nhận, hai chúng ta duyên định tam sinh…”

“Nếu nói tam sinh hữu duyên, bất quá cũng chỉ là tuân theo luân hồi của thế gian, nghiệp báo của nhân quả, đền nợ kiếp trước mà thôi. Trọn đời quấn quýt si mê, không được giải thoát, quay đầu lại cũng chỉ là một khoảng hư không.” Tử Du lạnh lùng nói.

Bàn tay bịt mắt hạ xuống, gương mặt tuyệt mỹ của Triệu Thuyên nhăn lại thành một nắm, than thở: “Tử Du, ngươi thật đúng là làm mất hứng.”

Tử Du rụt lui cổ, tránh ra một chút, giọng điệu bình tĩnh nói: “Có sinh tất có tử, có nhân duyên tất có quả báo, chỉ có nhìn thấu tất cả mới có khả năng chứng được đại đạo.”

“Không phải chứ, lâu như vậy không gặp, ta vừa tới ngươi đã niệm kinh giảng đạo cho ta nghe?” Triệu Thuyên kêu rên.

Tử Du quay đầu lại, con ngươi đen ôn nhuận như mang theo ý cười: “Ha ha, ngươi nói vậy thì coi như vậy đi. Nếu ta có thể ở trước Tam Sinh Thạch độ hóa được ẩn sĩ Đạo môn như Thái Hoa, vậy cũng đủ để trở thành giai thoại thiên cổ như Viên Trạch thiền sư rồi!”

Triệu Thuyên nhìn gương mặt tươi cười ôn hoà của y, bỗng nhíu mày: “Ngươi gần đây nhất định là rất mệt mỏi?”

“A, đã bị phát hiện…?”

Mắt phượng nheo lại, Triệu Thuyên vươn tay xoa gương mặt của y: “Đương nhiên rồi. Cho dù Tử Du chỉ thiếu một sợi tóc ta cũng có thể nhìn ra. Ôi chao, rốt cuộc làm sao lại phiền lòng? Chẳng lẽ là việc chuẩn bị Đản thần cho Sơ tổ đã phá huỷ ngươi thế này?”

Tử Du tránh né ngón tay của hắn, lui về phía sau dựa vào thân cây, nói: “Hoàng đế Kim quốc Hoàn Nhan Lượng hạ chiếu cho Thiếu Lâm Tự, muốn sắc phong phương trượng của Thiếu Lâm là Đạo Dung đại sư, ban thưởng vàng bạc để trùng kiến lại chánh điện. Đạo Dung thiền sư cho rằng Thiếu Lâm nằm trong ranh giới quản lý của Kim quốc, không tiện công khai kháng chỉ, không thể làm gì khác hơn là đã tiếp nhận. Thế nhưng nam tông bên này hầu như ai cũng phản đối, đặc biệt là Tịnh Từ Tự thuộc Tào Động tông, bọn họ nhận được phong hào và cung phụng của Triệu Cấu, cho rằng cử chỉ đó của Đạo Dung thiền sư là thông đồng với địch bán nước. Hai bên ầm ĩ không thể can được.”

Triệu Thuyên khẽ mỉm cười, nói: “Ai nha, những lúc thế này, Tử Du ngươi nên đứng ra hoà giải chứ. Tin tưởng các vị cao tăng đại đức Thiền tông ngũ gia thất phái hẳn là đều nể mặt ngươi.”

Tử Du xoa huyệt Ấn đường, mệt mỏi nói: “Ta bất quá chỉ là một cư sĩ chưa xuất gia, lấy tư cách gì để chủ trì đại cuộc? Hơn nữa, việc này thực sự rất khó giải quyết. Sự kiêng dè của Đạo Dung đại sư ta hiểu rõ, thế nhưng Nam tông bên này chưa phải trải qua cảm giác đối đầu với quân Kim, sĩ khí hưng phấn, thái độ khó tránh khỏi có chút cực đoan.”

“…Tử Du” Triệu Thuyên bỗng nhiên kéo tay y: “Ngươi đã nói tất cả nhân duyên đều có quả báo, muốn nhìn thấu luân hồi, như vậy ngươi cần gì phải ép buộc chính mình rơi vào vòng phân tranh của thế tục? Chiến tranh Kim Tống hết sức căng thẳng, vốn là việc không thể tránh khỏi, ngươi lao lực như thế lại có ý nghĩa gì?”

Tử Du kinh ngạc liếc hắn một cái, nói: “Phật lấy từ bi làm gốc, độ tất cả khổ ách, phổ độ chúng sinh. Huống chi, nếu như không thể độ hết chúng sinh, nhất là chúng sinh tham luyến chấp mê, vậy mình còn có thể nói gì đến chuyện giải thoát? Lẽ nào ngươi muốn ta mở mắt trừng trừng nhìn bách tính gặp nạn, sinh linh đồ thán?”

Triệu Thuyên thở dài: “Cho dù ngươi muốn cứu khổ cứu nạn, cũng không nhất thiết phải khiến cho chính mình mệt mỏi như vậy. Ôi chao, bản hầu nhìn thấy mà đau lòng!” Lời nói chưa xong, lại bắt đầu đùa giỡn.

Đã mãi thành thói quen, Tử Du bật cười một tiếng nói: “Ha ha, ngươi người này, nếu muốn giúp ta thì tự mình ra mặt đi. Ta tin rằng với thân phận của ngươi, vừa là sư huynh của chưởng giáo Do Long phái, vừa là Ngũ thế tôn của Thái tổ hoàng đế, ngươi chỉ cần giậm chân một cái là phong vân biến sắc. Huống chi giang sơn này cũng là của Triệu gia ngươi .”

Triệu Thuyên lắc đầu, ra vẻ đắc ý nói: “Ôi chao, tổ sư Trần Đoàn của Đạo môn ta có thơ nói rằng: ‘Vũ trụ mênh mông cũng là không, đời người khác chi cơn say khướt. Vất vả làm lụng bởi vì ai, không bằng giường cao yên giấc ngủ.’ Khoanh tay kê gối mà ngủ, ngồi nhìn hồng trần thay đổi cũng là một chuyện thú vị, việc gì phải lao vào vũng nước đục kia?”

Tử Du thở dài: “Trần Đoàn là thiên tiên của Đạo môn các ngươi, ông ấy sinh vào thời nhà Đường suy vong, trải qua thời Ngũ đại loạn thế, rõ ràng không đành lòng thấy dân chúng chịu khổ vì thay triều đổi đại, nhưng cũng chỉ đóng cửa kê cao gối ngủ, một giấc kinh niên, nhắm mắt làm ngơ. Ta nhớ dân gian có ngạn ngữ là ‘Trần Đoàn một giấc tám trăm năm’, loại tác phong thanh tĩnh vô vi, lánh đời một cách tiêu cực này thực sự không tính là cao minh.”

Ánh mắt Triệu Thuyên loé lên, đột nhiên nói: “Như vậy Tử Du chủ trương rằng nam nhi trên đời, nên có chiến tích để lại?”

Tử Du cười nói: “Oa ngưu giác thượng tranh hà sự? Thạch hoả quang trung ký thử thân(*). Nhân sinh khổ đoản, chỉ sống trong từng hơi thở. Có chiến tích hay không không quan trọng. Chẳng qua kinh nghĩa Đại thừa coi trọng phổ độ chúng sinh, ngươi mặc dù không phải đệ tử Phật môn, nhưng cũng là trời sinh quý trụ vương hầu, mắt nhìn thấy thiên hạ họ Triệu của ngươi vùng vẫy trong biển khổ mênh mông, sao có thể thờ ơ?”

(* Trích từ bài “Đối tửu” của Bạch Cư Dị, ý nói sống trên đời này giống như bị bó buộc trong một không gian nhỏ xíu như sừng ốc sên, có cái gì đáng tranh giành? Đời này ngắn ngủi tựa như một chút ánh lửa loé lên khi hai hòn đá lửa chạm vào nhau liền vụt tắt.)

Mắt phượng hẹp dài xẹt qua một tia quang mang sắc bén, Triệu Thuyên nói: “Nếu như ta không phải thờ ơ?”

Vầng trán ấm lên, cũng là hắn dùng trán chạm trán, chóp mũi chạm chóp mũi, hơi thở ấm áp gần trong gang tấc, ánh mắt dây dưa, nhãn thần thâm thúy. Những mệt mỏi rã rời tích lũy từ trước tới nay đột nhiên trào dâng trong lòng, Tử Du nhịn không được nhắm mắt lại, mặc hắn đụng chạm, toàn thân xao xuyến một loại tình cảm ái muội mà xa lạ, nhưng ngoài ý muốn y cũng không thấy phản cảm. Một lát, y khẽ cười nói: “Nếu như thế thì còn gì bằng, ta ngóng trông Thái Hoa xuất sơn trợ lực, trừ khử hoạ chiến tranh.”

Bốn phía vô cùng yên tĩnh. Ngay cả tiếng cười của khách hành hương từ miếu truyền lại cũng dần dần trở nên xa xôi.

Từng làn hơi thở ấm áp lướt qua mũi miệng, có chút ngứa, có chút nhột. Y dường như nghe thấy tiếng tim đập của đối phương, trầm ổn mà mạnh mẽ, thình thịch, thình thịch…

Một lúc lâu, y nghe được Triệu Thuyên thở dài khẽ nói: “Ôi chao, Tử Du, ngươi nói… Khi đó, Viên Trạch thiền sư biết rất rõ nếu đi đường thủy sẽ phải chết, vì sao vẫn nghe theo Lý Nguyên?”

Tử Du ngẩn ra, tiếp theo mới hiểu hắn chuyển trọng tâm câu chuyện, là đang nói tới truyền thuyết về Tam Sinh Thạch nơi đây, trầm ngâm trong chốc lát, nói: “Có nhân tất có quả, có lẽ Viên Trạch thiền sư cũng biết không thể nào trốn tránh được thiên mệnh?”

Bên tai bỗng nhiên vang lên tiếng cười trầm thấp, bởi vì hai người chạm trán, Tử Du có thể cảm nhận được thân thể đối phương vì cười mà khẽ rung lên. Y nhịn không được mở mắt, ánh vào mắt y chính là ánh mắt sáng dị thường của Triệu Thuyên. Đuôi mắt xếch lên, quyến rũ xinh đẹp, trong con ngươi như có hai ngọn lửa, cháy bỏng lạ thường.

“Tử Du ơi là Tử Du, ta nói không phải…” Giọng nói trầm thấp của hắn phảng phất mang theo một loại mị hoặc khó có thể tả thành lời, “Ta đoán nha, đó là bởi vì, Viên Trạch thiền sư biết, nếu như hắn chọn đường bộ, hắn và hảo hữu Lý Nguyên sẽ phải đi hai đường khác nhau… Nhưng mà, hắn luyến tiếc, không muốn rời xa hảo hữu… Cho nên, thà là chọn đường thủy, cùng hảo hữu đi hết một đoạn đường cuối cùng của kiếp này…”

Gương mặt không hiểu vì sao trở nên nóng bừng, giống như là chịu không nổi ánh mắt chăm chú mải miết nhìn, Tử Du quay mặt đi, nhỏ giọng nói: “Thiền sư và hảo hữu tâm đầu ý hợp, mười ba năm sau cách thế gặp nhau, coi như là có duyên. Niệm niệm nối tiếp, không ngừng tuần hoàn, nắm giữ hay buông bỏ, cũng đều là luân hồi.”

Triệu Thuyên nhìn gương mặt ửng hồng của y, rốt cuộc buông tay thối lui, một lát, than thở: “…Nơi này được gọi là Tam Sinh Thạch, đều là do truyền thuyết về thiền sư Viên Trạch mà ra. Thế nhưng, bọn họ rõ ràng chỉ gặp gỡ có hai kiếp mà thôi. Không biết kiếp thứ ba của hai người, là như thế nào? Tam sinh tam sinh, vì sao ở đây gọi là Tam Sinh Thạch, mà không gọi là Cách Thế Thạch?”

Tử Du nghiêng đầu suy nghĩ, nói: “Ái dục là nhân, ái mệnh là quả. Trong vòng sinh tử luân hồi, cũng không phải không có khả năng tuần hoàn lặp lại. Nói không chừng kiếp thứ ba của hai người cũng là hảo hữu thề sinh hẹn tử như cũ…”

Triệu Thuyên bỗng nhiên cười ra tiếng, nhanh như thiểm điện chồm người tới hôn trộm lên môi y, ý cười lấp lánh trong mắt, giảo hoạt tự đắc, thản nhiên nói: “Nói như vậy, Tử Du, nói không chừng đôi ta chính là kiếp thứ ba của bọn họ cũng nên. Đều là hảo hữu tri kỷ tâm đầu ý hợp, ngươi là cư sĩ, Viên Trạch thiền sư là hòa thượng, ta họ Triệu, là đồng tông với đương kim hoàng thượng, Lý Nguyên cũng là cùng họ với hoàng đế Đường triều, đều là con cháu thế gia gia tài bạc triệu. Kiếp này của chúng ta, nhất định là để bù đắp cho kiếp trước tiếc nuối vì vội vã gặp mặt đã phải chia tay, muốn phải thật dài thật lâu, vĩnh viễn chẳng phân ly…”

Nụ hôn lướt qua trên môi nhẹ nhàng như chuồn chuồn lướt nước, Tử Du lại phát hiện trong lòng mình hoàn toàn không có ý trở mặt động thủ. Trên mặt càng nóng lên, y hừ một tiếng, đẩy ra gương mặt tuyệt mỹ ngay trước chóp mũi mình, tựa như phủi một con ruồi, thẹn quá thành giận nói: “Ngươi lại nói bậy! Yên tâm, ta nếu viên tịch quy thiên, không cần phải đợi đến mười ba năm sau mới gặp lại ngươi, lập tức đầu thai chuyển thế làm con ngươi, để ngươi tha hồ thoả mãn thật dài thật lâu!”

Triệu Thuyên hoa dung thất sắc, còn kém không cắn khăn tay rơi lệ: “Ai nha, Tử Du, ngươi … Thật không ngờ tình ý của ngươi đối với ta lại sâu như vậy! Ta quả thật rất cảm động! Có điều ta hiện nay còn chưa cưới vợ, lấy đâu ra con? Không bằng…” Khóe môi cong lên một nụ cười vô lại: “Tử Du gả cho ta được rồi, cũng có thể lâu dài bên nhau, ngươi lại không cần phải đầu thai thêm một lần…”

Thấy hắn càng nói càng không ra gì, Tử Du ôn nhu nói: “Thái Hoa, hai chúng ta xa cách lâu ngày, tính đến cũng đã lâu không luận bàn công phu. Thái Cực chân khí của ngươi tiến cảnh tới đâu rồi?” Trên mặt là vẻ bình tĩnh trước khi phong ba kéo tới.

“Vô cực mà thái cực, âm dương luân chuyển, tương phản tương thành. Tính ra tiến cảnh của ta tới tầng thứ tám thì vẫn trì trệ không tiến…. Tử Du nếu có hứng thú, không ngại cùng bản hầu thử hợp tịch song tu xem sao?”

Thịch! Gân xanh nổ ra trên trán Tử Du, Kim Cương Phục Ma Châu xuất hiện, Vãng Sinh Chú vang lên –

“Không. Cần! Chỉ cần mỗi ngày đánh ngươi ba trận thay cơm, nhất định Hộ Thể chân khí của ngươi sẽ tiến cảnh rất nhanh!” Chỉ một khoảnh khắc sau Triệu Thuyên liền biến thành sao băng bay xa trên bầu trời.

Một nén nhang thời gian trôi qua, Thái Hoa hầu khập khiễng đi trở về, kéo ống tay áo Tử Du, nhất quyết nếu không vào Nguyệt lão từ đường là không chịu về. Đối với công phu mặt dày vô lại của hắn Tử Du đành cam nguyện chịu thua, bất đắc dĩ bị kéo vào trong. Cũng may bốn mỹ tỳ Mai Lan Trúc Cúc đã đi, lúc này cũng đã là hoàng hôn, từ đường không có khách hành hương gì, chỉ còn lại tiểu sa di ngồi đếm tiền đếm đến rút gân.

Hai người vào từ đường, liền thấy tượng Nguyệt lão râu tóc bạc phơ, mặt mũi hiền lành, dáng tươi cười dễ mến, một tay cầm sổ hôn nhân, tay kia cầm dây tơ hồng. Triệu Thuyên trầm ngâm một lát, đột nhiên nói: “Tử Du, chúng ta đến xin một quẻ nhân duyên đi!”

Tử Du lảo đảo suýt chút nữa ngã sấp, tức giận nói: “Thái Hoa hầu động xuân tâm, cứ việc tự mình đi cầu. Đừng kéo một cư sĩ bán xuất gia như ta xuống nước!”

Triệu Thuyên cười hì hì từ phía sau ôm lấy y, nhỏ giọng thì thầm bên tai: “Ai nha, Tử Du đang nói cái gì? Ta cầu nhân duyên, đương nhiên là cầu nhân duyên với Tử Du ngươi nha!”

Sợi tóc rơi lả tả bên mặt, lướt qua chóp mũi y, Tử Du rũ xuống bờ mi, nhìn sợi tóc hai người quấn quýt cùng nhau, tim đột nhiên đập thình thịch, trong lúc hoảng hốt đã quên mất trả lời.

“Trăng sáng mọc trên biển, soi chung một góc trời. Tình nhân oán xa cách, đêm dài ôm tương tư.”

Trong lúc y đang ngây người thì Triệu Thuyên đã cầu một quẻ, quẻ từ xuất phát từ bài thơ thời Đường “Vọng nguyệt hoài viễn” của Trương Cửu Linh. Là Chấn hạ, Đoài thượng, quẻ thuận chính.

Tiểu sa di vốn lui ở một bên đếm tiền, lúc này thấy tiền lại tới cửa, lập tức cười hì hì chạy qua đây, khua môi múa mép nói: “Vị công tử này, xin chúc mừng, quẻ này chính là trung thượng quẻ.”

Triệu Thuyên nhướn mày: “Thật sao? Vậy thỉnh tiểu sư phụ đoán xâm.”

Tiểu sa di nói: “Ý của quẻ là nói công tử và tình nhân tâm đầu ý hợp, cho dù xa cách thiên lý cũng lo lắng cho nhau. Chỉ là…” Ngừng một lát, chớp chớp mắt, Triệu Thuyên ngầm hiểu, cầm một thỏi bạc cho gã.

“Nhân duyên này, hai bên phải có một bên bỏ qua sự nghiệp của mình để theo bên kia… thì mới có thể có kết quả viên mãn. Nếu như hai người không ai nhường ai, ai cũng không muốn lui một bước… vậy chỉ có thể trở thành nỗi tiếc nuối suốt đời mà thôi.”

Đáy mắt xẹt qua một tia dị quang, vẻ mặt Triệu Thuyên đông cứng lại, một lát, lại giương mắt cười như thể không có việc gì, nói: “Thì ra là vậy.” Liền thúc giục Tử Du cũng xin một quẻ.

Tử Du mặt đỏ tới mang tai: “Nói bậy! Ta đã lập chí xuất gia làm sư, còn cầu nhân duyên làm gì!”

Tiểu sa di luyến tiếc tiền sắp tới tay, bèn khơi mào nói: “Ai da, thí chủ không biết đó thôi, Nguyệt lão của chúng ta vốn là từ truyền thuyết Tam Sinh Thạch mà ra, ngoại trừ cầu duyên phu thê cũng có thể cầu nghĩa bằng hữu! Ngài rút một quẻ đi!”

Triệu Thuyên càng bám dính lấy Tử Du ăn vạ, động tác ái muội, khiến cho tiểu sa di nghẹn họng nhìn trân trối. Tử Du da mặt mỏng, chỉ phải tùy ý rút một quẻ.

“Kỳ phùng địch thủ đối mặt nhau, thế cuộc trắng đen chẳng thể quyết. Một nước cuối cùng phân thắng bại, phải xem bên nào giỏi chuyển xoay.”

Quẻ từ xuất phát từ điển cố Khương Duy đấu trận Đặng Ngải thời Tam Quốc, ý nói tựa như kỳ phùng địch thủ, mọi việc nếu dùng cơ mưu thì mới được thuận lợi.

Tiểu sa di sửng sốt, cười gượng nói: “Quẻ này…” Trên mặt lộ vẻ khó xử. Triệu Thuyên thấy thế, lại lấy ra một thỏi bạc, tung hứng trong lòng bàn tay.

Tiểu sa di liếc qua, nuốt một ngụm nước bọt, vội cười làm lành nói: “Quẻ nói thí chủ và người kia tương xứng, có thể nói là cân tài cân sức, là đối thủ lâu năm. Duyên phận của hai người nhìn như không có bất cứ dấu hiệu thành công gì, nhưng… Có một số việc nhỏ tưởng như không quan trọng lại có khả năng rung động đối phương.”

Triệu Thuyên mỉm cười, ném bạc cho gã, tiểu sa di cười toe toét, lớn tiếng nói: “Cho nên quẻ cầu duyên phận này, cũng có thể đạt được! Nhất định là có thể đạt được!”

Tử Du nghi hoặc nhìn gã, lại quay đầu nhìn Thái Hoa hầu đang cười gian không ngừng, lắc đầu thở dài: rốt cuộc là đoán xâm nghiêm túc, hay là “có tiền có thể sai quỷ khiến ma”?

Hai người rời khỏi từ đường, lững thững đi dọc theo con đường mòn giữa núi, cỏ dại mọc thành bụi. Thái Hoa hầu một đường đều cười tựa như một con hồ ly vừa trộm được gà, đắc ý dào dạt. Tử Du chậc lưỡi hai tiếng, không cho là đúng, liền tuỳ tiện vò quẻ xâm trong tay định vứt bỏ, lại bị hắn đoạt lấy, thật cẩn thận vuốt thẳng, xếp cùng một chỗ với quẻ của hắn, trân trọng cất vào trong ngực áo.

Lại im lặng đi một đoạn, Triệu Thuyên bỗng nhiên nói: “Tử Du, mấy ngày trước, Hoàn Nhan Lượng cũng hạ chiếu đến Hi Di cung, nói muốn phong Do Long phái của chúng ta làm quốc giáo Đại Kim. Chưởng giáo sư đệ muốn ta đến để thương lượng việc này, cho nên ta hôm nay mới đến chậm.”

Trần Đoàn lão tổ từng được Tống Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa ban thưởng danh hào “Hi Di tiên sinh”, ngay cả Đạo cung cũng là ngự ban xây nên, trên Hoa Sơn còn có Vân Thai quan. Mà chưởng giáo Hạc Không Không ở tại Đạo cung phía bắc Trường Giang, đặt tên theo đạo hào của tổ sư, vì vậy Hi Di cung cũng là tổng đàn của Do Long phái.

Tử Du kinh ngạc nói: “Xem ra dã tâm của Hoàn Nhan Lượng không nhỏ, còn chưa nam hạ, gã đã muốn không đánh mà thu phục hai tôn giáo quan trọng là Phật Đạo. Người này thật không đơn giản!”

Triệu Thuyên cười dài nói: “Hoàn Nhan Lượng người này vốn là thí quân soán vị, còn dõng dạc tuyên bố, chí hướng của hắn có ba: Một là thống nhất quốc gia, hai là tấn công vùng hạ lưu Trường Giang thống nhất thiên hạ, ba là đoạt được tuyệt sắc nhân gian. Tuy rằng vô sỉ, nhưng thật ra rất thẳng thắn.”

Tử Du lườm hắn một cái nói: “Tỉnh nắm quyền thiên hạ, say tựa gối mỹ nhân? Chẳng lẽ Thái Hoa hầu cũng nghĩ như vậy? Nhìn ngươi cười đến độ ta thấy ngươi cũng cùng một loại!” Nụ cười thật …dâm đãng, nhìn là muốn đánh!

Bốn bề tịch liêu không tiếng động, hoàng hôn buông xuống, gió núi dần dần nổi lên. Ánh tà dương chìm xuống phía tây, mái tóc dài xoã tung sau vai của Tử Du như được tô điểm thêm một tầng sáng màu vàng nhạt, mang theo mùi hương tinh khiết của cây cỏ, khẽ tung bay trong gió đêm.

Khóe môi của y hơi cong lên, phảng phất như đang quở trách, lại phảng phất như đang mỉm cười. Con ngươi ôn nhuận ánh chiếu ráng chiều, như có sắc vàng nhảy múa. Ý cười nhẹ nhàng như nước chảy giữa khoé mắt đuôi mày, ôn hòa từ ái, phi nam phi nữ, phi tiên phi tục, giống như một sự tồn tại siêu thoát khỏi trần tục.

Triệu Thuyên kinh ngạc nhìn y, cảm thấy đầu óc trở nên mê muội. Hương sen thoang thoảng tinh khiết quẩn quanh bốn phía, như có như không, triền miên đưa tình.

Bỗng nhiên, hắn gỡ xuống thanh ngọc trâm trên tóc mình, tiến lên một bước, dùng tay vén lại mái tóc dài đang tung bay trong gió của Tử Du, dùng trâm vấn lại mái tóc tán loạn ấy.

Nếu không làm như vậy, người trước mắt này thật giống như sẽ biến mất theo một cơn gió thoảng qua.

Không đợi phản ứng đã ôm chặt y vào lòng, Triệu Thuyên tựa vào đầu vai y không ngừng lẩm bẩm: “Tử Du Tử Du…”

“Hồn cũ vấn vương Tam Sinh thạch, nhắc chi chuyện đón gió ngâm trăng. Thẹn lòng tình nhân từ xa đến, thân này dẫu đổi tính vẫn nguyên.”

Một lúc lâu, chợt nghe người trong lòng bỗng nhiên chậm rãi ngâm, chính là bài thơ mà Viên Trạch thiền sư khi chuyển sang kiếp khác trở thành mục đồng, đã ngâm khi gặp lại Lý Nguyên sau mười ba năm cách thế.

Mặt trời chiều nơi chân trời cứ dần dần chìm xuống, bóng hoàng hôn nồng đậm chậm rãi bao phủ bốn bề. Giọng nói gần trong gang tấc lại mang theo cảm xúc hoảng hốt mà mờ mịt, Triệu Thuyên đột nhiên cảm thấy hoang mang, mà lại không sao hiểu được rốt cuộc là vì sao.

Khi tia sáng cuối cùng của mặt trời cũng bị bóng tối nuốt chửng, Tử Du lại nhỏ giọng ngâm tiếp:

“Kiếp trước kiếp này chuyện mênh mông, muốn nhắc nhân duyên sợ đau lòng. Núi sông Ngô Việt lần tìm khắp, lại về khua sóng nước trên sông”

Truyền thuyết Tam Sinh Thạch, mục đồng nhìn thấy Lý Nguyên, không đợi hắn tiến đến gần, ngâm xong bài thơ thì đã không thấy bóng dáng tung tích. Lý Nguyên nhìn thấu tình đời ở lại nơi chùa miếu, sống đến tám mươi tuổi, không tật bệnh mà chết. Chỉ là suốt đời cũng không còn gặp lại được người xưa…

“… Tử Du.” Triệu Thuyên ngẩng đầu, hai tay khoát lên bờ vai Tử Du, kéo giãn khoảng cách giữa hai người một chút, thẳng tắp nhìn y.

Tử Du nhịn không được bật cười: “Ha ha, Thái Hoa, ngươi làm sao vậy? Ta bắt chước rất giống sao? Mặt ngươi bị dọa đến trắng bệch! Thật không ngờ đường đường Thái Hoa hầu, lại đi sợ ma quỷ…”

Triệu Thuyên trầm mặc một lát, nâng tay vuốt ve gương mặt của y, dần dần, ngón tay phủ lên bờ môi mềm mại.

Tiếng tim đập trở nên dồn dập, giữa bốn bề tĩnh lặng thế này bỗng rõ ràng lạ lùng.

Đường nhìn giao nhau, hoang mang, hoảng hốt, huyễn hoặc, mê luyến… Trong đôi mắt phượng hẹp dài ấy Tử Du đọc được nhiều tình cảm phức tạp như thế, giao triền quấn quýt, khiến cho lòng y cũng theo đó nhói lên, rồi lại cảm thấy ấm áp và an tâm kỳ lạ.

Gió chợt nổi, bóng trăng trong giếng vỡ tan tành theo sóng nước lăn tăn. Thiền tâm đã loạn.

Triệu Thuyên dời ngón tay, nhẹ nhàng cúi người, đặt môi của mình lên môi y, mà y, không hề đẩy ra.

Tác giả:

Dừng bước giang hồ.

Gửi lời yêu thương ♥

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s